Triển vọng phục hồi kinh tế ASEAN: Tích cực nhưng không chắc chắn

08:17 | 24/06/2022

Theo Báo cáo dự báo kinh tế toàn cầu mới nhất của ICAEW và Oxford Economics, triển vọng phục hồi kinh tế khu vực Đông Nam Á sẽ không chắc chắn, do phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực từ bên ngoài khu vực. Tuy vậy, mức tăng trưởng trung bình của Đông Nam Á được kỳ vọng sẽ đạt khoảng 5,8% trong năm 2022. Việt Nam được dự đoán là quốc gia có triển vọng tăng trưởng cao trong khu vực, ở mức trên 6,5% trong năm nay.

trien vong phuc hoi kinh te asean tich cuc nhung khong chac chan Áp lực thắt chặt chính sách gia tăng tại ASEAN

Tăng trưởng khá lạc quan

Toàn khu vực ghi nhận sự tụt hậu rõ rệt trong tiến trình phục hồi của ngành dịch vụ, đặc biệt về lưu trú, thực phẩm và bán lẻ dù kỳ vọng đà phục hồi được dự báo sẽ tăng lên khi các quốc gia mở lại biên giới và nới lỏng các hạn chế đi lại. Tuy nhiên, chính sách “zero Covid” của Trung Quốc và các đợt phong tỏa liên tục đã tác động tiêu cực, nhất là đến Thái Lan, nơi khách du lịch chủ yếu là người Trung Quốc.

Bên cạnh đó, sự phục hồi của khu vực Đông Nam Á còn chịu tác động bởi những khó khăn từ bên ngoài khác, gồm sự gián đoạn chuỗi cung ứng và sự sụt giảm nhu cầu từ thị trường Trung Quốc do các đợt phong tỏa kéo dài, cũng như xung đột Nga-Ukraine đang diễn ra đã tác động đáng kể đến lạm phát và giá cả hàng hóa. Mặc dù vậy, viễn cảnh phía trước là khá lạc quan, khu vực Đông Nam Á dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 5,8% trong năm nay (tăng 3,7% so với năm ngoái), theo báo cáo vừa công bố của ICAEW và Oxford Economics.

trien vong phuc hoi kinh te asean tich cuc nhung khong chac chan

“Mặc dù mức độ ảnh hưởng trực tiếp của cuộc xung đột Nga-Ukraine ở Đông Nam Á là hạn chế, nhưng khu vực này vẫn bị ảnh hưởng bởi lạm phát và phản ứng của chính sách tiền tệ trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra, chính sách “zero Covid” của Trung Quốc cũng đã gây ra hiệu ứng domino về tác động tiêu cực đối với các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp và du lịch của khu vực. Vì thế, những thách thức từ bên ngoài khu vực sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của khu vực Đông Nam Á và chúng tôi kỳ vọng sẽ nhìn thấy sự phục hồi trong lĩnh vực dịch vụ khi chúng ta học cách sống chung với Covid”, ông Mark Billington, Giám đốc điều hành các thị trường quốc tế của ICAEW, cho biết.

Báo cáo nhận định, tốc độ hồi phục các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á sẽ diễn ra không đồng đều do tác động của biến thể Delta, lộ trình mở cửa trở lại khác nhau và những tác động khác từ bối cảnh toàn cầu hiện nay. Đơn cử, Malaysia là một trong những nước ít chịu tác động tiêu cực nhất của tình trạng giá cả hàng hóa gia tăng như hiện nay. Giá dầu toàn cầu tăng do xung đột Nga-Ukraine, nhưng do Malaysia là nước xuất khẩu ròng dầu và khí LNG, nên thậm chí doanh thu xuất khẩu các mặt hàng này của Malaysia còn cao hơn. Bên cạnh đó, các khoản trợ cấp nhiên liệu do Chính phủ thực hiện cũng giúp kiểm soát giá xăng dầu tiêu dùng. Ngoài ra, Malaysia còn áp dụng một số biện pháp bảo hộ lương thực để giảm các tác động tiêu cực. Tuy nhiên, do các biện pháp đóng cửa từ năm ngoái để đối phó với biến thể Delta cũng như sự phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu sang Trung Quốc, nên GDP năm nay của Malaysia dự kiến sẽ thấp hơn khoảng 1 - 1,5% so với dự báo trước đó, về mức khoảng 7,2%.

Việt Nam là điểm sáng

Trong năm 2021, Việt Nam là quốc gia không bị ảnh hưởng đặc biệt bởi làn sóng biến thể Delta và do đó không phải trải qua các đợt đóng cửa lớn gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế như Malaysia và Philippines. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã hồi phục khá nhanh so với các quốc gia còn lại trong khu vực. Việc nới lỏng các biện pháp phòng dịch từ quý IV/2021 và quý I/2022 đã thúc đẩy sự tăng trưởng du lịch nội địa, hỗ trợ cho lĩnh vực dịch vụ du lịch hồi phục đáng kể. Tuy nhiên, trong giai đoạn mở cửa sau đại dịch hiện nay, ngành du lịch cần có sự chú trọng ở khu vực quốc tế, để thu hút khách du lịch quay trở lại Việt Nam. Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong nay năm sẽ đẩy mạnh nhu cầu về xây dựng và nguồn nhân lực, đồng thời tiếp tục duy trì năng lực xuất khẩu tích cực. Báo cáo dự báo tăng trưởng của Việt Nam đạt khoảng 6,5% trong năm 2022 và có thể lên mức 8,3% năm 2023.

Với các nước ASEAN-6, kỳ vọng tăng trưởng kinh tế trong năm nay đạt 6,3%. Trong khi hầu hết các nền kinh tế thuộc nhóm ASEAN-6 đều được dự báo tăng trưởng sẽ cải thiện đáng kể so với năm ngoái, thì riêng Singapore bị điều chỉnh giảm mạnh. Cụ thể, năm 2021 Singapore ghi nhận mức tăng trưởng 7,6% (chủ yếu được thúc đẩy bởi lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu), nhưng dự báo sẽ giảm mạnh chỉ còn 2,9% trong năm nay. Nguyên nhân chính là do sản xuất công nghiệp chậm lại và khối lượng xuất khẩu yếu hơn do các đợt “đóng cửa” ở Trung Quốc.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850