Tỷ giá ngày 11/10: Tỷ giá trung tâm tăng trở lại

10:19 | 11/10/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (11/10), trong khi tỷ giá trung tâm tăng trở lại sau phiên giảm trước đó thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 4-8/10
ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai Tỷ giá ngày 8/10: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm

ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.170 đồng, tăng 5 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau một phiên giảm trước đó.

ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.750 VND/USD đối với giá mua vào và 23.815 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng tiếp tục không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.630 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.680 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 22.840 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 22.869 VND/USD.

ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 94,106 điểm, tăng nhẹ +0,002 điểm (+0,00%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh dang duy trì ở mức giá cao nhất trong gần một năm so với các đồng tiền chủ chốt khác, cao nhất 2 năm rưỡi so với đồng yên, sau khi số liệu bảng lương yếu của Mỹ không làm thay đổi kỳ vọng của thị trường rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thông báo rằng họ vẫn bắt đầu giảm lượng mua tài sản vào tháng tới.

Nền kinh tế Mỹ tạo ra ít việc làm nhất trong 9 tháng vào tháng Chín, với biên chế phi nông nghiệp chỉ tạo thêm 194.000 việc làm, thấp hơn nhiều so với dự báo 500.000 của các nhà kinh tế.

Tuy nhiên, dữ liệu cho tháng Tám đã được điều chỉnh tăng mạnh trong khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong 18 tháng là 4,8%. Thu nhập trung bình theo giờ cũng tăng 0,6% từ mức tăng 0,4% trong tháng Tám.

Có thể dễ dàng nhận ra, "bóng ma" thiếu lao động vẫn còn tồn tại trong nền kinh tế Mỹ, qua đó đẩy chi phí nhân công lên. Theo đó, nó giữ cho nỗi lo về lạm phát tồn tại và đưa lý do để Fed tiếp tục giảm kích thích kinh tế.

Lợi suất trái phiếu của Mỹ đã tăng theo dữ liệu việc làm, với lợi suất chuẩn trái phiếu kho bạc 10 năm đạt mức cao nhất trong 4 tháng là 1,617%, thêm sức hút cho bạc xanh.

Yên Nhật - đồng tiền nhạy cảm nhất với chênh lệch lợi suất, đã phản ứng qua việc giảm xuống mức 112,44 JPY/USD (-0,18%), mức thấp nhất kể tháng 4/2019.

“Mặc dù con số việc làm là yếu, nhưng khi bạn xem xét chi tiết, triển vọng vẫn vững chắc và không có điều gì có thể ngăn Fed giảm mua tài sản vào tháng tới”, Shinichiro Kadota, chiến lược gia ngoại hối tại Barclays nhận định và thêm rằng: “Cặp tỷ giá yên - đô la Mỹ hiện đang ở quanh mức cao nhất kể từ tháng 4/2019. Nếu mức này tiếp tục bị phá vỡ, chúng ta có thể thấy đồng đô la Mỹ tăng lên 113 hoặc 114 dễ dàng".

Các nhà phân tích cho biết, đồng tiền của Mỹ có thể tăng giá hơn nữa nếu dữ liệu giá tiêu dùng của Mỹ được công bố vào thứ Tư cho thấy sự gia tăng lạm phát và thúc đẩy kỳ vọng tăng lãi suất sớm hơn vào năm tới, sau khi Fed giảm dần chương trình mua tài sản.

Mặt khác, với sự gián đoạn nguồn cung và giá hàng hóa tăng cao ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác, lo ngại về lạm phát không chỉ giới hạn ở Mỹ.

Sáng nay, euro đi ngang ở mức 1,1571 USD, dao động trên mức thấp nhất hôm thứ Tư là 1,1529 USD - mức thấp nhất kể từ tháng 7 năm ngoái.

Bảng Anh sáng nay tăng 0,21% ở mức 1,3644 USD, nối dài chuỗi phục hồi từ mức thấp nhất trong 9 tháng được thiết lập vào cuối tháng trước, do kỳ vọng ngày càng tăng rằng Ngân hàng Trung ương Anh có thể tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát tăng vọt.

Đô la Canada giảm nhiệt và tăng nhẹ ở mức 1,2464 CAD/USD, sau khi đạt mức cao nhất trong hai tháng là 1,24525 vào thứ Sáu nhờ dữ liệu bảng lương của Canada mạnh mẽ đáng ngạc nhiên và giá dầu cao.

Ở những nơi khác, đô la Úc tăng 0,29% ở mức 0,7328 USD; trong khi đô la New Zealand tăng 0,11% ở mức 0,6936 USD.

ty gia ngay 1110 ty gia trung tam tang tro lai

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.855 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.050
57.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.050
57.750
Vàng SJC 5c
57.050
57.770
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.550
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.250