Tỷ giá ngày 18/10: Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ phiên đầu tuần

10:03 | 18/10/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (18/10), trong khi tỷ giá trung tâm tăng nhẹ trở lại sau hai phiên giảm mạnh trước đó thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan Tỷ giá ngày 15/10: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm
ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan Tỷ giá ngày 14/10: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm
ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.160 đồng, tăng nhẹ 1 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau khi giảm hai phiên liên tiếp với tổng mức giảm là 22 đồng.

ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.750 VND/USD đối với giá mua vào và 23.805 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết ngân hàng ít biến động so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.630 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.680 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 22.840 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 22.867 VND/USD.

ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 93,989 điểm, tăng 0,035 điểm (0,04%) so với thời điểm mở cửa.

Sáng nay, bạc xanh chỉ tăng nhẹ so với rổ tiền tệ khi đô la New Zealand và bảng Anh tăng sức mạnh trong bối cảnh diễn biến lạm phát nóng ở New Zealand và những nhận xét mang tính "diều hâu" hơn từ Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh (BOE).

Mặc dù tăng sáng nay, chỉ số đô la Mỹ hiện đã giảm khoảng 0,6% so với mức cao nhất năm 2021 đạt vào tuần trước, khi các nhà đầu tư cho rằng áp lực lạm phát có thể khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có các hành động quyết liệt hơn, trong khi các ngân hàng trung ương khác cũng cần phải thúc đẩy tiến trình thắt chặt chính sách.

New Zealand đã báo cáo mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng quý lớn nhất trong một thập kỷ vào quý III. Trong khi đó, Thống đốc BOE, Andrew Bailey, cho biết hôm Chủ nhật rằng giá năng lượng tăng cao sẽ kéo dài lạm phát tại Anh và các nhà hoạch định chính sách sẽ phải hành động nếu họ thấy rủi ro.

Dữ liệu CPI đã nâng giá đô la New Zealand lên sát mức cao nhất trong một tháng ở 0,7079 USD (+0,1%).

Bảng Anh sáng nay giảm nhẹ ở mức 1,3739 USD, sat mức cao nhất trong một tháng của ngày thứ Sáu là 1,3773 USD

Đô la Úc giảm nhẹ nhưng vẫn gần mức cao nhất trong sáu tuần ở 0,7415 USD, trong bối cảnh giá dầu giao sau đứng ở mức cao nhất trong ba năm và được kỳ vọng sẽ tăng cao hơn nữa.

“Phần còn lại của thế giới có lẽ đang vượt qua Mỹ về lạm phát và nó gây áp lực lên các ngân hàng trung ương đó nhiều hơn so với Mỹ”, chuyên gia phân tích tiền tệ của Westpac, Imre Speizer, nói.

Ông thêm rằng, tại New Zealand, sự nhảy vọt bất ngờ về giá sẽ củng cố quan điểm hiện tại của Ngân hàng Trung ương rằng họ đang tiếp tục đi đúng hướng.

Sáng nay, euro giảm nhẹ so với bạc xanh và giao dịch ở 1,1591 USD, trong khi bạc xanh giảm 0,14% so với yên Nhật và hiện ở mức 114,06 JPY/USD.

Các quỹ tương lai của Fed hiện đang dự báo các đợt tăng lãi suất của Mỹ sẽ bắt đầu vào tháng Chín sang năm khi áp lực lạm phát gia tăng, và lãi suất có thể kéo dài ở mức 1,5% cho đến năm 2026.

Các dự báo cũng cho thấy khả năng các nhà điều hành chính sách tiền tệ sẽ hành động để thay đổi nhanh hơn ở những nơi khác - với gần 30% khả năng BOE tăng lãi suất trong năm nay và tăng 80 điểm cơ bản đến năm 2022.

Ngay cả ở Úc, nơi mà ngân hàng trung ương đã khẳng định rằng họ dự kiến ​​sẽ giữ lãi suất cho đến năm 2024, khả năng tăng lãi suất cũng được dự đoán có thể bắt đầu vào giữa năm 2022 và tăng tiếp trước khi bắt đầu năm 2024.

Ở thông tin khác, dữ liệu GDP quý III của Trung Quốc sẽ được công bố trong ngày hôm nay, với các nhà phân tích dự báo ​​sẽ chậm lại. Thị trường cũng đang hướng sự chú ý vào lĩnh vực tài chính của Trung Quốc, nơi một loạt các nhà phát triển bất động sản có các khoản thanh toán phiếu giảm giá đã đến hạn.

Sáng nay, nhân dân tệ ổn định và giao dịch ở mức 6,4368 CNY/USD.

ty gia ngay 1810 ty gia trung tam tang nhe phien dau tuan

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050