Tỷ giá ngày 27/7: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng nhẹ

10:00 | 27/07/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (27/7), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng nhẹ thì giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe Điểm lại thông tin kinh tế ngày 26/7
ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe Tỷ giá ngày 26/7: Tỷ giá trung tâm tăng trở lại trong phiên đầu tuần

ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.217 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng phiên thứ hai liên tiếp với tổng mức tăng là 8 đồng.

ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.859 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước đó.

ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.880 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.940 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.090 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.120 VND/USD.

ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,600 điểm, giảm -0,028 điểm (-0,03%) so với thời điểm mở cửa.

Đồng đô la Mỹ dao động ngay dưới mức đỉnh gần đây khi các nhà đầu tư tập trung theo dõi cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để biết thêm manh mối về triển vọng chính sách tiền tệ.

Phiên giảm sáng nay là tiếp nối của phiên hôm qua, khi chỉ số bạc xanh cũng đã giảm 0,3%.

Tuy nhiên tính trong hơn một tháng nay, bạc xanh vẫn tăng khi các thị trường đang thận trọng trước khả năng Fed có thể bắt đầu giảm bớt hỗ trợ và dữ liệu cho thấy các nhà đầu tư hiện đang mua vào USD lần đầu tiên kể từ tháng 3/2020.

Cuộc họp của Fed sẽ diễn ra vào thứ Tư tuần này và trọng tâm là các cuộc thảo luận xung quanh quy mô chương trình mua trái phiếu và phản ứng của Fed trước việc lạm phát tiếp tục gia tăng.

Chiến lược gia Joe Capurso của Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia cho biết trong một bài viết rằng việc cắt giảm hỗ trợ của Fed có thể sẽ sớm bắt đầu và điều này thúc đẩy đồng bạc xanh lên giá.

Tuy nhiên, Steve Englander, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu ngoại hối tại Standard Chartered, lại cho rằng: “Chủ tịch Fed Jerome Powell sẽ thể hiện sự kiên nhẫn nhiều hơn các thành viên khác của Fed trước khả năng sớm can thiệp chính sách để hạ thấp lạm phát, miễn là điều kiện kinh tế trong nước vẫn cho thấy thị trường lao động đang trì trệ”.

"Một động thái ôn hòa của ông Powell có thể sẽ đẩy lãi suất dài hạn tăng lên... do lạm phát tăng và giảm lo ngại của thị trường về tăng trưởng trung hạn chậm hơn", ông nói và cho biết thêm: "Nghịch lý thay, điều này có thể là tiêu cực với bạc xanh bởi vì sự không chắc chắn trên toàn cầu về phản ứng chính sách đối với lạm phát cao hơn sẽ giảm bớt”.

Kỳ vọng lạm phát tăng cao đã đẩy lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ xuống mức thấp kỉ lục, điều này đã góp phần vào sự suy yếu của đồng đô la Mỹ.

Sáng nay, đồng euro tăng nhẹ so với bạc xanh và giao dịch ở mức 1,1805 USD; trong khi bạc xanh giảm 0,14% so với đồng yên, hiện tỷ đang giao dịch ở mức 110,23 JPY/USD.

Đồng bảng Anh cao hơn mức trung bình động trong 20 ngày và hiện đang được giao dịch gần mức cao nhất trong một tuần ở 1,3826 USD, khi các dữ liệu ban đầu cho thấy các ca lây nhiễm COVID-19 mới ở nước này đang giảm, mặc dù Anh đã dỡ bỏ nhiều biện pháp hạn chế xã hội vào tuần trước.

Đồng đô la giao dịch ở mức 1,1809 USD/EUR và 110,27 JPY/USD vào đầu phiên giao dịch châu Á.

Ở những nơi khác, đồng đô la Úc và New Zealand đều giảm so với bạc xanh, hiện đang giao dịch lần lượt ở mức 0,7382 USD (-0,04%) và 0,6989 USD (-0,15%).

Mối lo ngại về sự lây lan dịch bệnh do biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV-2 và sự xáo trộn trên thị trường chứng khoán Trung Quốc đã khiến giao dịch diễn ra thận trọng ở châu Á. Tuy nhiên, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc sáng nay gần như đi ngang và ổn định ở mức 6,4767 CNY/USD, khi các nhà đầu tư chờ đợi số liệu lợi nhuận khu vực sản xuất của Trung Quốc sắp được công bố.

ty gia ngay 277 ty gia trung tam tiep tuc tang nhe

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000