Tỷ giá ngày 30/7: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm mạnh

10:04 | 30/07/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (30/7), tỷ giá trung tâm và giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng cùng giảm mạnh so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh Điểm lại thông tin kinh tế ngày 29/7
ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh Tỷ giá ngày 29/7: Tỷ giá trung tâm và giá mua - bán bạc xanh cùng giảm

ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.180 đồng, giảm mạnh 32 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 38 đồng.

ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.825 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng đã giảm mạnh so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.820 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.900 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.040 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.073 VND/USD.

ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 91,949 điểm, tăng +0,071 điểm (+0,08%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh phục hồi nhẹ sau phiên hôm qua chỉ số đã có lúc xuống 91,855 điểm - mức thấp nhất kể từ ngày 29/6. Trong tuần, chỉ số này giảm 1%. Trong tháng, chỉ số này đã giảm 0,5% cho đến nay, sau khi tăng 2,8% vào tháng Sáu.

Bạc xanh đang có xu hướng giảm, hiện đã xuống gần mức thấp nhất một tháng và hướng đến tuần tồi tệ nhất kể từ tháng Năm, khi quan điểm ôn hòa của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cùng với dữ liệu kinh tế không được như kỳ vọng đã khiến bạc xanh dứt chuỗi tăng kéo dài một tháng.

Xu hướng giảm của bạc xanh bắt đầu sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell có bài phát biểu tại cuộc họp báo mới đây, ông nói rằng việc tăng lãi suất là "một chặng đường còn xa" và thị trường việc làm vẫn còn dư địa để phục hồi.

“Trong khi Fed tiếp tục cho biết họ đang tiến tới giảm dần kích thích tiền tệ, thì động thái mới đây của Fed cho thấy vấn đề này có vẻ sẽ tiến triển chậm hơn so với dự đoán trước đây”, Steven Dooley, chiến lược gia tiền tệ tại Western Union Business Solutions, nói và cho rằng: “Sự thận trọng của Fed là do tốc độ tăng trưởng của Mỹ đã chậm hơn dự đoán, lạm phát và lo lắng về biến thể Delta của vi-rút SARS-Cov-2 giảm bớt”.

Theo số liệu mới được công bố, tăng trưởng trong quý II của Mỹ ở mức 6,5%, được thúc đẩy bởi các gói viện trợ tài khóa lớn của chính phủ, tuy nhiên nó không đạt được kỳ vọng của các nhà kinh tế với dự báo tăng trưởng ở mức 8,5%.

Các nhà đầu tư sẽ theo dõi chặt chẽ một loạt các chỉ số vĩ mô của Mỹ sẽ được công bố vào cuối ngày, bao gồm các chỉ số liên quan việc làm quý II, thu nhập cá nhân và chi tiêu trong tháng 6, chỉ số tâm lý người tiêu dùng của Đại học Michigan cho tháng Bảy.

Sáng nay, bạc xanh đi ngang và gần mức thấp nhất trong hai tuần so với đồng yên Nhật, hiện đang giao dịch ở mức 109,49 JPY/USD.

Đồng euro đã leo lên mức cao nhất trong một tháng so với bạc xanh trước khi giảm nhẹ vào sáng này ở 1,1880 USD, khi thị trường chờ đợi dữ liệu GDP quý II và CPI tháng Bảy của Pháp, Đức, Ý và khu vực đồng tiền chung, cùng với đó là dữ liệu liên quan đến việc làm của tháng Sáu.

Trong một diễn biến khác, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc đã phục hồi và giao dịch ở mức 6,4530 CNY/USD, sau đợt lao dốc hôm thứ Ba, khi nhận được sự trợ giúp bởi nỗ lực để làm dịu căng thẳng của nhà đầu tư sau phiên bán tháo bằng cách yêu cầu các công ty môi giới nước ngoài không "suy luận quá mức" các hành động chính sách mới nhất.

Sáng nay, đồng đô la Úc và New Zealand - các đồng tiền rủi ro hơn và phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế thế giới và Trung Quốc, đều dao động gần mức cao nhất trong hai tuần.

Cụ thể, đô la Úc đang giao dịch ở mức 0,7389 USD; trong khi đô la New Zealand giao dịch ở mức 0,7004 USD.

Đồng bảng Anh giảm nhẹ nhưng dao động gần mức cao nhất trong hơn một tháng nhờ đồng đô la Mỹ yếu đi và số ca nhiễm COVID-19 ở Anh giảm, hiện đang giao dịch ở mức 1,3952 USD.

ty gia ngay 307 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000