Tỷ giá ngày 3/8: Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ

09:48 | 03/08/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (3/8), trong khi tỷ giá trung tâm giảm điểm thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng không đổi với cuối phiên trước, nhưng so với sáng qua, giá đã giảm nhẹ.

ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/8
ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe Tỷ giá ngày 2/8: Tỷ giá trung tâm đi ngang

ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.176 đồng, giảm 4 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã giảm điểm sau phiên đi ngang trước đó.

ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.975 VND/USD đối với mua vào và 23.821 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng không đổi với cuối phiên trước, nhưng so với sáng qua, giá đã giảm nhẹ.

ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.825 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.890 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.030 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.065 VND/USD.

ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 92,026 điểm, giảm -0,041 điểm (-0,04%) so với thời điểm mở cửa.

Sáng nay, bạc xanh giảm nhẹ và tiếp tục ở gần mức thấp nhất một tháng.

“Thị trường đang chịu rủi ro vừa phải trước việc lợi suất trái phiếu giảm. Nhà đầu tư thận trọng khi biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV-2 đang lan rộng ở nhiều nơi, ngay cả ở Trung Quốc”, Yukio Ishizuki, chiến lược gia cấp cao tại Daiwa Securities, lưu ý.

Sản xuất công nghiệp của Mỹ chậm lại trong tháng thứ hai liên tiếp, theo báo cáo của Viện Quản lý Cung ứng (ISM).

“Theo lịch sử số liệu, con số của ISM đưa ra về lĩnh vực sản xuất của Mỹ ở 59,5 điểm vẫn là rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, phản ứng trên thị trường trái phiếu với số liệu này, với lợi suất giảm, cho thấy nhà đầu tư đang tỏ ra lo ngại trước khả năng tăng trưởng xuống dốc sau khi đạt đỉnh”, Rodrigo Catril, chiến lược gia ngoại hối cấp cao tại Ngân hàng Trung ương Úc, viết trong một bản tin.

Liên quan đến tình hình dịch bệnh, tại Mỹ, các ca nhập viện do COVID-19 ở Louisiana và Florida đã tăng lên mức cao kỷ lục, trong khi chuyên gia y tế dự phòng hàng đầu của Mỹ, Anthony Fauci, đã loại trừ khả năng sẽ có một đợt phong tỏa mới.

Biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV-2 vốn được các nhà chức trách Mỹ mô tả là dễ lây lan như bệnh thủy đậu và hơn nhiều cảm cúm thông thường cũng đang hoành hành ở nhiều quốc gia châu Á, thậm chí ở những nơi từng được cho là đã thành công trong việc ngăn chặn căn bệnh này.

Trong khi đó, Nhật Bản hôm thứ Hai đã mở rộng tình trạng hạn chế khẩn cấp đến nhiều khu vực hơn, khi các trường hợp lây nhiễm tăng kỷ lục ở Tokyo. Trong khi đó ở Trung Quốc, biến thể Delta lan rộng từ vùng biển đến các thành phố trong nội địa, đặt ra những thách thức mới cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Bang Queensland của Úc hôm thứ Hai đã gia hạn phong tỏa ở bang Brisbane, trong khi các binh sĩ bắt đầu tuần tra ở Sydney để giám sát việc người dân bị buộc phải ở trong nhà.

Sáng nay, đồng đô la Úc đã tăng nhẹ lên mức 0,7367 USD khi các nhà đầu tư chờ đợi cuộc họp chính sách của Ngân hàng Trung ương Úc, dự kiến ​​sẽ lùi lại quyết định cắt giảm chương trình mua trái phiếu mà họ từng công bố trước đó.

Đồng đô la New Zealand tăng 0,36% lên 0,6992 USD, sau khi ngân hàng trung ương nước này cho biết họ sẽ sớm bắt đầu thảo luận về các giải pháp thắt chặt tiêu chuẩn cho vay thế chấp để kiểm soát thị trường nhà ở đang tăng nóng, qua đó bảo vệ người mua nhà.

Ở nơi khác, bạc xanh giảm nhẹ so với đồng yên và được giao dịch ở mức 109,22 JPY, gần mức thấp nhất đạt vào ngày 19/7 là 109,07 JPY - mức thấp nhất kể từ cuối tháng Năm.

So với đồng franc Thụy Sĩ, bạc xanh giảm nhẹ và giao dịch ở mức 0,9050 CHF, sau khi chạm mức thấp nhất trong 1,5 tháng là 0,9038 trong phiên trước đó.

Đồng euro tăng nhẹ và giao dịch ở 1,1876 USD, tuy nhiên động lực tăng đã suy yếu sau khi đạt mức cao nhất trong một tháng là 1,1909 USD hôm thứ Sáu tuần trước.

Trong khi đó, đồng bảng Anh tăng 0,09% và giao dịch ở 1,3895 USD, nhưng vẫn thấp hơn mức cao nhất trong một tháng đạt vào thứ Sáu tuần trước là 1,39835 USD.

ty gia ngay 38 ty gia trung tam giam nhe

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800