Tỷ giá sáng 24/11: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ 1 đồng

09:12 | 24/11/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (24/11), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ 1 đồng thì giá mua - bán bạc xanh nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong Tỷ giá sáng 23/11: Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng
ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong Tỷ giá sáng 22/11: Tỷ giá trung tâm đi ngang

ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.671 đồng, tiếp tục giảm nhẹ 1 đồng. Như vậy tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 3 đồng.

ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong

Sáng nay, giá bán USD tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên như phiên trước, hiện đang niêm yết ở 24.850 đồng/USD; giá mua vào USD vẫn tạm để trống.

Trong khi đó, giá mua - bán bạc xanh nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở 24.600 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 24.699 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 24.853 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 24.855 VND/USD.

ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 105,878 điểm, giảm 0,219 điểm (-0,21%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh giảm khi các nhà đầu tư kỳ vọng tốc độ tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ chậm lại, sau khi biên bản cuộc họp tháng 11 được công bố tiết lộ một số manh mối về sự "xoay chiều" này, đồng thời tăng đặt cược vào các tài sản rủi ro hơn.

Biên bản cuộc họp cho thấy các quan chức Fed phần lớn tỏ ra hài lòng với diễn biến lạm phát hạ nhiệt trong tháng Mười và giờ đây họ có thể chấp nhận các đợt tăng lãi suất thấp hơn.

“Tôi nghĩ gần như chắc chắn Fed sẽ giảm tốc độ thắt chặt chính sách từ tháng 12”, chiến lược gia tiền tệ tại Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia, Carol Kong nhận định.

Sau thông tin trên, chỉ số bạc xanh đã giảm 1% trong phiên hôm qua.

Vào tháng trước, Fed đã tăng lãi suất cơ bản thêm 75 điểm cơ bản, lần thứ tư liên tiếp tăng ở mức này, trong nỗ lực kìm chế lạm phát đang ở mức cao. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã thấp hơn so với dự kiến trong tháng Mười làm dấy lên hy vọng về tốc độ tăng lãi suất sẽ "vừa phải" hơn trong các tháng sau đó.

Những kỳ vọng đó đã khiến ​chỉ số bạc xanh giảm 5,1% trong tháng 11 và hướng đến tháng giảm mạnh nhất trong 12 năm.

Theo các chiến lược gia của Citi, vẫn còn sự không chắc chắn về mức độ tăng lãi suất sắp tới, mặc dù có sự đồng thuận rằng lãi suất sẽ tăng thấp hơn.

Biên bản cuộc họp cũng cho thấy một cuộc tranh luận đang nổi lên trong nội bộ Fed về những rủi ro mà việc thắt chặt chính sách nhanh chóng có thể gây ra cho tăng trưởng kinh tế và ổn định hệ thống tài chính. Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách thừa nhận rằng có rất ít tiến bộ rõ nét trong cuộc chiến chống lạm phát, và lãi suất vẫn cần phải tăng.

Dữ liệu được công bố hôm qua cho thấy hoạt động kinh doanh của Mỹ đã giảm tháng thứ năm liên tiếp trong tháng 11, với số lượng đơn đặt hàng mới giảm xuống mức thấp nhất trong 2 năm rưỡi do lãi suất cao hơn hạn chế nhu cầu.

Tuy nhiên, chiến lược gia Kong cảnh báo rằng thị trường dường như đang quá lạc quan về khả năng kết thúc chu kỳ thắt chặt chính sách của Fed, đồng thời lưu ý rằng vẫn có sự hỗ trợ mạnh mẽ cho bạc xanh từ chính sách Zero-Covid của Trung Quốc.

Số ca nhiễm Covid-19 gia tăng đã khiến nhiều thành phố của Trung Quốc áp đặt trở lại các biện pháp hạn chế mạnh mẽ hơn, làm gia tăng lo lắng của các nhà đầu tư về nền kinh tế thứ hai thế giới và hạn chế khẩu vị rủi ro.

Sáng nay, đô la Úc tăng 0,22% lên 0,6748 USD, trong khi đô la New Zealand tăng 0,35% lên 0,6259 USD.

So với bạc xanh, sáng nay euro tăng 0,2% lên 1,0418 USD, trong khi bảng Anh được giao dịch ở 1,2081 USD, tăng 0,22%, sau khi tăng 1,4% ở phiên trước khi dữ liệu sơ bộ về hoạt động kinh tế của Anh vượt kỳ vọng, mặc dù ngân hàng trung ương nước này được dự báo sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong cuộc họp tới.

Ở nơi khác, yên Nhật tăng 0,49% so với đồng bạc xanh lên 138,91 JPY/USD.

ty gia sang 2411 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe 1 dong

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750