Tỷ giá sáng 30/12: Tỷ giá trung tâm đi ngang

09:19 | 30/12/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (30/12), trong khi tỷ giá trung tâm đã có phiên đi ngang sau 12 phiên giảm liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng được điều chỉnh giảm so với cuối phiên trước.

ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang Điểm lại thông tin kinh tế ngày 29/12
ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang Tỷ giá sáng 29/12: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm 3 đồng

ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.617 đồng, không đổi so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên đi ngang sau 12 phiên giảm liên tiếp với tổng mức giảm là 38 đồng.

ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang

Sáng nay, giá bán USD tại Sở giao dịch NHNN được niêm yết ở mức 24.780 VND/USD, không đổi so với phiên trước, trong khi giá mua vẫn được niêm yết ở 23.450 VND/USD.

Trong khi đó, giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng được điều chỉnh giảm so với cuối phiên trước.

ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở 23.390 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.500 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.735 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.890 VND/USD.

ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 103,931 điểm, giảm nhẹ 0,053 điểm (-0,05%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh giảm nhẹ nhưng vẫn hướng đến năm có hiệu suất tốt nhất trong bảy năm gần đây, nhờ được hỗ trợ bởi chính sách thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và những lo ngại về triển vọng tăng trưởng toàn cầu.

Chỉ số bạc xanh đã tăng hơn 8% trong năm nay, mức cao nhất kể từ năm 2015.

Fed đã tăng lãi suất tổng cộng 425 điểm cơ bản kể từ tháng Ba để kiềm chế lạm phát gia tăng, một động thái đã thúc đẩy bạc xanh tăng giá trong phần lớn thời gian của năm.

Nhưng kỳ vọng rằng ngân hàng trung ương này có thể không phải tăng lãi suất cao như lo ngại trước đây đã khiến bạc xanh gần đây mất đà tăng. Chỉ số bạc xanh đã giảm hơn 7% trong quý này.

“Tôi cho rằng bạc xanh đang như "ông vua mất ngai" và sẽ có một bước ngoặt quyết định vào giữa năm tới”, Chiến lược gia tiền tệ Moh Siong Sim của Ngân hàng Trung ương Singapore nhận định.

Ngược lại, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đang quyết liệt giữ quan điểm điều hành lâu nay, trái ngược hoàn toàn so với một Fed diều hâu, và điều này đã gây ra áp lực lớn với yên Nhật. Nó đã giảm hơn 13% từ đầu năm đến nay, mức giảm mạnh nhất kể từ năm 2013.

Nhưng điều chỉnh bất ngờ vào tuần trước đối với việc kiểm soát lợi suất trái phiếu của BoJ khiến các nhà đầu tư đặt cược rằng ngân hàng trung ương có thể sớm từ bỏ hoàn toàn chính sách gây tranh cãi (nới lỏng) của mình, qua đó giúp đồng tiền này phục hồi đáng kể.

Sáng nay, yên Nhật tăng 0,35% lên 132,56 JPY/USD.

"Câu hỏi đặt ra là liệu còn nhiều điều thay đổi nữa sẽ đến hay không", Sim gợi mở và thêm rằng: "Nhưng tôi nghĩ nền tảng cơ bản của nền kinh tế Nhật Bản đang bắt đầu có lợi cho đồng nội tệ của họ".

Euro sáng nay giảm nhẹ xuống 1,0659 USD và đang trên đà giảm hơn 6% trong năm nay, chịu áp lực bởi sự kết hợp giữa tăng trưởng yếu của khu vực đồng euro, xung đột ở Ukraine và chính sách diều hâu của Fed.

Đồng tiền chung châu Âu đã từng giảm xuống dưới mức ngang giá so với bạc xanh trong năm nay, lần đầu tiên sau gần hai thập kỷ.

Trong khi đó, bảng Anh sáng nay giảm nhẹ 0,02% xuống còn 1,2053 USD và có vẻ như sẽ kết thúc một năm với mức giảm gần 11% - mức tồi tệ nhất kể từ năm 2016 - trong bối cảnh đầy biến động trên chính trường.

Các nhà hoạch định chính sách từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) gợi ý sẽ có nhiều đợt tăng lãi suất hơn vào năm tới, trong nỗ lực kiềm chế lạm phát ngay cả khi có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế.

"Việc ECB và BoE buộc phải thắt chặt chính sách mạnh mẽ hơn trong bối cảnh những "cú sốc" chi phí cao dai dẳng sẽ gần như chắc chắn đẩy châu Âu vào một cuộc suy thoái khá sâu", người đứng đầu bộ phận kinh tế và chiến lược tại Ngân hàng Mizuho, Vishnu Varathan dự đoán.

Ở những nơi khác, đô la Úc sáng nay giảm 0,25% xuống 0,6761 USD và đang hướng tới mức sụt giảm 7% hàng năm.

Trong khi đó, đô la New Zealand đã 0,22% xuống 0,6333 USD và hướng đến mức giảm hơn 7% kể từ đầu năm đến nay, mức giảm mạnh nhất kể từ năm 2015.

Các đồng tiền này thường nhạy cảm với những biến động của kinh tế Trung Quốc và có thể khởi sắc hơn với sự mở cửa trở lại của nền kinh tế thứ hai thế giới.

Việc Trung Quốc thay đổi chính sách cứng rắn "Zero - COVID" trong tháng này đã khiến hệ thống chăm sóc sức khỏe của họ phải vật lộn để đối phó với làn sóng lây nhiễm gia tăng và các quốc gia áp đặt các biện pháp hạn chế đối với khách du lịch từ Trung Quốc.

Sáng nay, nhân dân tệ giao dịch ở 6,9745 CNY/USD, giảm 0,15%, đang hướng tới mức giảm gần 9% hàng năm.

"Sang năm 2023, trọng tâm trước mắt của Trung Quốc sẽ là tăng trưởng. Một mặt, tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại nhưng mặt khác, việc Trung Quốc mở cửa trở lại mang đến hy vọng", Christopher Wong, chiến lược gia tiền tệ tại OCBC nói và lưu ý thêm rằng: "Vấn đề là liệu việc mở cửa trở lại nhanh chóng ở Trung Quốc có gây ra làn sóng dịch COVID-19 mới ở một số quốc gia khác hoặc khu vực hay không, và điều đó có thể dẫn đến những hạn chế mới hay không...".

ty gia sang 3012 ty gia trung tam di ngang

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
5,80
5,80
7,20
7,20
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
5,80
5,90
7,20
7,20
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
5,80
5,80
7,20
7,20
Cake by VPBank
1,00
-
-
-
6,00
-
6,00
8,90
-
9,00
9,00
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
6,70
6,90
7,10
7,80
Sacombank
-
-
-
-
5,50
5,60
5,70
7,50
7,70
7,90
8,30
Techcombank
0,30
-
-
-
5,90
5,90
5,90
7,70
7,70
7,70
7,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
7,60
7,60
8,00
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
8,55
8,60
8,65
9,20
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
5,80
5,80
7,20
7,20
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,30
6,60
7,10
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.390 23.760 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.440 23.740 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.385 23.745 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.390 23.750 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.360 23.740 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.350 23.900 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.400 23.785 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.413 23.758 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.390 24.010 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.450 23.780 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.750
67.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.750
67.450
Vàng SJC 5c
66.750
67.470
Vàng nhẫn 9999
54.800
55.800
Vàng nữ trang 9999
54.600
55.400