Tỷ giá sáng 4/10: Tỷ giá trung tâm tăng phiên thứ tư liên tiếp

09:48 | 04/10/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (4/10), trong khi tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng thì giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng có tăng, có giảm so với cuối phiên trước.

ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/10
ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang Tỷ giá sáng 3/10: Tỷ giá trung tâm có phiên tăng thứ ba liên tiếp

ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.423 đồng, tăng 11 đồng so với phiên trước. Như vậy tỷ giá trung tâm đã có phiên tăng thứ tư liên tiếp với tổng mức tăng là 77 đồng.

ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Sáng nay, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên giá mua - bán USD. Hiện, giá bán ra đang ở 23.925 đồng/USD; trong khi giá mua vào vẫn tạm để trống.

Trong khi đó, giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng có tăng, có giảm so với cuối phiên trước.

ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.708 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.800 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 24.000 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 24.050 VND/USD.

ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 111,636 điểm, giảm nhẹ 0,026 điểm (-0,02%) so với thời điểm mở cửa.

Trong rổ tiền tệ trên, bảng Anh kéo dài sự phục hồi, trong khi đô la Úc giảm từ gần mức cao nhất của tháng trước so với bạc xanh trước quyết định của ngân hàng trung ương vào cuối ngày, với các nhà đầu tư đang chia rẽ khi dự đoán lãi suất chính sách tại Úc có thể tăng 25 hoặc 50 điểm cơ bản.

Bạc xanh mất đi hỗ trợ do lợi suất trái phiếu kho bạc sụt giảm khi dữ liệu kinh tế cho thấy sự chậm lại trong sản xuất, ám chỉ rằng các đợt tăng lãi suất tích cực của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế và chính sách tiền tệ của nước này có thể sẽ đổi chiều.

Sáng nay, bảng Anh ít thay đổi ở 1,1329 USD, sau khi chạm mức cao nhất kể từ ngày 22/9, một ngày trước khi chính phủ mới cắt giảm thuế và mở rộng vay nợ. Tuy nhiên, hôm qua, Thủ tướng Anh Liz Truss đã buộc phải hoãn kế hoạch trong bối cảnh vấp phải nhiều ý kiến phản đối.

Euro sáng nay dao động gần mức cao nhất kể từ ngày 22/9 ở 0,9826 USD.

Hôm thứ Hai, cuộc khảo sát của Viện Quản lý Cung ứng (ISM) cho thấy hoạt động sản xuất của Mỹ chậm nhất trong gần 2 năm rưỡi vào tháng Chín, khi các đơn đặt hàng mới giảm xuống.

Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia dự đoán rằng đà phục hồi của bảng Anh sẽ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và bạc xanh sẽ tiếp tục tăng trở lại.

"Bạc xanh có thể lại tăng cao khi Fed tiếp tục tăng mạnh lãi suất và nền kinh tế toàn cầu có thể rơi vào suy thoái", chiến lược gia của CBA, Joseph Capurso viết trong một bản tin và lưu ý rằng: "Rủi ro suy thoái toàn cầu có thể đẩy bảng Anh xuống đáng kể và triển vọng kinh tế yếu kém của Anh sẽ khiến đồng tiền của nước này chịu áp lực trong trung hạn".

Sáng nay, bạc xanh tăng 0,11% so với yên Nhật lên 144,71 JPY/USD, ngay dưới mức 145 sau một thời gian ngắn vọt lên trên mức đó vào thứ Hai - lần đầu tiên kể từ khi các nhà chức trách Nhật Bản can thiệp để hỗ trợ đồng yên Nhật vào ngày 22/9.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Shunichi Suzuki hôm thứ Hai nhắc lại rằng các nhà chức trách đã sẵn sàng cho các bước đi "quyết định" trên thị trường ngoại hối nếu đồng yên vẫn tiếp tục xu hướng đi xuống.

Đô la Úc sáng nay giảm 0,12% xuống 0,6508 USD, nhưng vẫn gần mức đỉnh của ngày 23/9. Tuần trước, đồng tiền này đã xuống mức thấp nhất trong 2 năm rưỡi.

Các nhà đầu tư dự đoán xác suất 41% rằng Ngân hàng Trung ương Úc (RBA) sẽ tăng lãi suất 25 điểm cơ bản và 59% xác suất tăng 50 điểm cơ bản sau hôm nay.

Đô la New Zealand sáng nay giảm 0,12% xuống 0,5714 USD, nhưng vẫn ở gần mức cao nhất trong tháng trước. Ngân hàng Trung ương New Zealand sẽ có quyết định chính sách vào thứ Tư và thị trường kỳ vọng rộng rãi rằng lãi suất sẽ tăng thêm 50 điểm cơ bản, đồng thời đưa ra xác suất 23% tăng 75 điểm cơ bản.

ty gia sang 410 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.830 24.140 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.860 24.140 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.840 24.140 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.880 24.180 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.830 24.100 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.850 24.110 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.828 24.150 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.680 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.840 24.120 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.250
67.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.250
67.050
Vàng SJC 5c
66.250
67.070
Vàng nhẫn 9999
53.250
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.050
53.850