Vay ngoại tệ không còn hấp dẫn doanh nghiệp?

12:47 | 15/06/2022

Ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, mặc dù ngành Ngân hàng thực hiện chủ trương hạn chế tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế theo chỉ đạo của NHNN, tuy nhiên cá nhân và tổ chức kinh tế nếu có nhu cầu ngoại tệ hợp pháp và chính đáng các NHTM vẫn sẵn sàng cung ứng ngoại tệ.

vay ngoai te khong con hap dan doanh nghiep Kiều hối vẫn sẽ giữ đà tăng
vay ngoai te khong con hap dan doanh nghiep Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước ký Quy chế mua bán ngoại tệ
vay ngoai te khong con hap dan doanh nghiep Hướng dẫn giao dịch ngoại tệ giữa NHNN và các TCTD được phép hoạt động ngoại hối

Theo NHNN chi nhánh TP.HCM, tính đến hết tháng 5/2022, tỷ trọng dư nợ cho vay vốn bằng ngoại tệ chiếm 7% tổng dư nợ, huy động vốn bằng ngoại tệ cũng chỉ chiếm khoảng 8% trong tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Tỷ trọng này thấp nhất trong nhiều năm qua cho thấy các chính sách hạn chế tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế đang phát huy hiệu quả.

vay ngoai te khong con hap dan doanh nghiep
Ảnh minh họa

Để cụ thể hóa chủ trương của Chính phủ về hạn chế tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế, từng bước thực hiện lộ trình chuyển dần quan hệ huy động - cho vay sang quan hệ mua - bán ngoại tệ, NHNN đã ban hành Thông tư 42/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú.

Theo đó, hiện nay hoạt động cho vay ngoại tệ trong ngân hàng chỉ phục vụ cho các mục đích. Thứ nhất, cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu được Bộ Công thương giao hạn mức nhập khẩu xăng dầu hàng năm để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu khi doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu không có hoặc không có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay.

Thứ hai, cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay. Tuy nhiên khi được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giải ngân vốn cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay, trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền thanh toán phải bằng ngoại tệ.

Thứ ba, cho vay để đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Bên cạnh đó, theo một lãnh đạo ngân hàng ở TP.HCM, một trong những chính sách quan trọng nhằm giảm tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế là quy định giảm lãi suất tiền gửi USD về mức 0%. Việc làm này đã giúp chuyển hóa một lượng lớn nguồn ngoại tệ trong dân cư sang tiền đồng để gửi tiết kiệm khi chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD ở mức khá cao. Nguồn tiền gửi ngoại tệ giảm mạnh trong thời gian qua cũng góp phần thu hẹp tín dụng ngoại tệ.

Chưa kể ngoài việc siết chặt đối tượng được vay ngoại tệ, diễn biến tỷ giá trong nước được duy trì ổn định trong một thời gian dài vừa qua cũng khuyến khích các doanh nghiệp chuyển sang quan hệ mua - bán trực tiếp ngoại tệ để thanh toán thay vì quan hệ vay mượn, bởi khi vay ngoại tệ thì cuối cùng doanh nghiệp cùng sẽ phải mua ngoại tệ để thanh toán trong khi lại phải chịu thêm chi phí lãi suất.

Tỷ trọng dư nợ tín dụng ngoại tệ giảm so với tổng dư nợ chung của các tổ chức tín dụng cũng có nghĩa là tỷ trọng dư nợ VND đang tăng lên. Đơn cử, giá trị tuyệt đối các khoản dư nợ cho vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM đến thời điểm cuối tháng 5/2022 ở mức 210.000 tỷ đồng (quy đổi), con số này cuối năm 2021 đã xấp xỉ 200.000 đồng (quy đổi). Trong khi, tín dụng chung xét theo giá trị tuyệt đối của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM cuối năm 2021 ở mức 2,8 triệu tỷ đồng, từ tháng 4/2022 tín dụng trên địa bàn TP.HCM đã vượt mức 3 triệu tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, mặc dù ngành Ngân hàng thực hiện chủ trương hạn chế tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế theo chỉ đạo của NHNN, tuy nhiên cá nhân và tổ chức kinh tế nếu có nhu cầu ngoại tệ hợp pháp và chính đáng các NHTM vẫn sẵn sàng cung ứng ngoại tệ.

Trần Duy Đông

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.650 23.960 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.700 23.980 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.680 23.980 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.600 23.900 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.690 23.960 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.650 24.000 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.700 23.950 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.678 23.990 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.570 24.025 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.740 24.000 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.750
65.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.750
65.750
Vàng SJC 5c
64.750
65.770
Vàng nhẫn 9999
51.100
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.600