Việt Nam đang hướng tới “thượng nguồn” trong chuỗi giá trị toàn cầu

15:55 | 29/07/2021

Đây là nhận định của chuyên gia đưa ra tại hội thảo với chủ đề “Định vị lại Việt Nam trong bối cảnh biến động toàn cầu”. Chương trình do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 29/7.

viet nam dang huong toi thuong nguon trong chuoi gia tri toan cau
Việt Nam đang hướng về “thượng nguồn” trong chuỗi giá trị toàn cầu

Công bố báo cáo tại hội thảo, PGS. TS Nguyễn Anh Thu, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế nhận định, trong bối cảnh biến động toàn cầu vài năm gần đây và đặc biệt là sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã làm cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy giảm và khó dự đoán.

Cụ thể, các nền kinh tế phát triển chứng kiến sự sụt giảm lớn nhất, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có mức sụt giảm ít hơn và riêng Trung Quốc lại tăng trưởng dương. Đại dịch cũng làm giảm tiềm năng tăng trưởng kinh tế toàn cầu xét trong cả thập kỷ 2020-2029. Thương mại và đầu tư quốc tế cũng bị ảnh hưởng sâu sắc và suy giảm trầm trọng. Đặc biệt, thương mại hàng hoá và dịch vụ đều xuống mức âm..

“Nếu so với năm trước, tương lai nền kinh tế thế giới đã bớt bất định hơn nhờ kinh nghiệm ứng phó với bệnh dịch và việc triển khai tiêm phòng vắc-xin ở nhiều nước lớn trên thế giới. Tuy nhiên, triển vọng kinh tế thế giới vẫn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát bệnh dịch trên quy mô toàn cầu mà điều này khó có thể xảy ra trong vòng một năm tới”, PGS. TS Nguyễn Anh Thu nhận định.

Tại Việt Nam, động lực cho tăng trưởng kinh tế được dự báo tiếp tục đến từ xuất khẩu và đầu tư công. Với việc dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam (mặc dù có chậm lại do tác động của đại dịch) thì xuất khẩu của khu vực này vẫn đóng vai trò quan trọng bậc nhất cho tăng trưởng của nền kinh tế trong nhiều năm tới

Theo đó, Việt Nam đã và đang tạo ra được những lợi thế tiền đề để nâng cao vị thế. Trong năm 2020, Việt Nam có lợi thế so sánh trong 6/20 nhóm ngành, cụ thể là ngành giày, dép, mũ và máy móc, thiết bị điện tử. Trong các chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam dù vẫn nằm ở phần “hạ nguồn” nhưng bắt đầu ghi nhận sự cải thiện, hướng tới vị trí “thượng nguồn” trong chuỗi giá trị toàn cầu nhiều hơn, PGS. TS Nguyễn Anh Thu nói.

Chỉ ra nguyên nhân, một chuyên gia phân tích, cải cách thể chế đồng bộ và năng lực thực thi chính sách tốt, năng suất lao động được cải thiện về giá trị và tốc độ đã ảnh hưởng trực tiếp vào tăng trưởng của doanh nghiệp; tái cơ cấu nền kinh tế hiệu quả đã giúp khả năng cạnh tranh của Việt Nam đã và đang dần tăng thứ hạng trên các bảng xếp hạng quốc tế như môi trường kinh doanh, đổi mới sáng tạo toàn cầu, hiệu quả logistics…

Đề cập tới triển vọng kinh tế, TS. Vũ Thanh Hương, Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Kinh tế bình luận, bức tranh kinh tế toàn cầu sẽ sáng hơn trong năm 2021 nhưng không đồng đều giữa các khu vực và vẫn còn nhiều bất định.

Với nền kinh tế Việt Nam, động lực cho tăng trưởng kinh tế được dự báo tiếp tục đến từ xuất khẩu và đầu tư công. Với việc dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam (mặc dù có chậm lại do tác động của đại dịch) thì xuất khẩu của khu vực này vẫn đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng của nền kinh tế trong nhiều năm tới.

Tuy nhiên, tốc độ tăng xuất khẩu sẽ phụ thuộc nhiều vào sự hồi phục của kinh tế thế giới và xuất khẩu của những mặt hàng truyền thống vốn chịu ảnh hưởng nặng nề trong năm qua. Trong khi đó, đóng góp trực tiếp của đầu tư công vào tăng trưởng sẽ không cao như năm 2020 do hạn hẹp về nguồn lực tài khóa.

Để xây dựng kịch bản tăng trưởng hiệu quả, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho rằng, cần phải bám sát thực tiễn. Bởi chỉ trong 1 tháng đã có nhiều thứ thay đổi, vì vậy kịch bản đã phải thay đổi và phù hợp với xu hướng. Hiện nay đa số phương thức trên thế giới đều đã thay đổi, ví dụ nhiều quốc gia đang tập trung vào nhóm nước, khu vực, khối nhiều hơn thay vì đại trà, song phương.

Xu hướng thứ 2 là thay đổi chính sách tài khóa và tiền tệ, các gói hỗ trợ tương đương khoảng 15,5% GDP toàn cầu, riêng tại Mỹ là 28% GDP đã tạo ra dòng tiền rẻ gây áp lực lạm phát, bong bóng tài sản… Tiếp theo là xu hướng đứt gãy chuỗi cung ứng và xu hướng phục hồi xanh.

Để vị thế của Việt Nam ở vị trí “thượng nguồn” trong bối cảnh biến động toàn cầu, PGS.TS Nguyễn Anh Thu, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế khuyến nghị trong ngắn hạn cần nỗ lực thực hiện đồng bộ các biện pháp khống chế dịch COVID-19, phát triển vắc-xin trong nước và tận dụng các mối quan hệ chiến lược để tiến hành ngoại giao vắc xin, ưu tiên đảm bảo nguồn cung và tổ chức tiêm vắc xin nhanh và hiệu quả.

Trong trung và dài hạn, Việt Nam nên kiên trì với những cải cách dài hơi hơn để cải thiện nền tảng vĩ mô và giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh vẫn là một yêu cầu thường trực. Đặc biệt, cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh địa phương của doanh nghiệp thông qua các trụ cột của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Đồng thời, Việt Nam cần tận dụng được thương mại và đầu tư để nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong tương lai. Nhanh chóng cải thiện hệ thống vận tải nhằm thúc đẩy lưu thông hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế; tận dụng các FTA nhằm cắt giảm và đơn giản hóa các thủ tục hải quan, thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi hóa cho hoạt động giao thương…

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000