VPBank ghi nhận 7.199 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng đầu năm

12:22 | 21/10/2019

Xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ về doanh thu và lợi nhuận, cùng với sự cải thiện của chi phí hoạt động và chất lượng tài sản tiếp tục được NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) củng cố và duy trì trong ba tháng vừa qua, theo báo cáo tài chính quý 3/2019  vừa được ngân hàng này công bố.

VPBank Hanoi Marathon 2019 hỗ trợ các quỹ từ thiện giúp đỡ trẻ em khó khăn
Hoàn 20% giá trị nạp tiền điện tử khi giao dịch qua VPBank Online
VPBank - Thương hiệu ngân hàng tư nhân mạnh nhất Việt Nam
Khách hàng giao dịch tại VPBank

Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ tăng tới 93,4%

Kết thúc 9 tháng đầu năm nay, tăng trưởng tín dụng hợp nhất của ngân hàng đạt 14,7% so với cuối năm 2018, cao hơn nhiều so với bình quân của ngành trong 9 tháng đầu năm là 8,4%.

Tăng trưởng huy động đạt 19,9%. Tổng thu nhập hoạt động hợp nhất của VPBank đạt 26.333 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái, hoặc 23,9% nếu loại trừ khoản thu nhập bất thường từ hợp tác bảo hiểm. Tổng thu nhập hoạt động của quý 3 tăng 25% so với cùng kỳ năm trước và tăng 7,1% so với quý liền trước đó.

Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của ngân hàng tiếp tục đà tăng trưởng tốt trong năm, đạt 7.199 tỷ đồng ở thời điểm cuối tháng 9, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nếu loại trừ đi khoản thu nhập bất thường từ hợp đồng hợp tác bảo hiểm được ghi nhận trong năm ngoái, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của VPBank thực chất đã tăng 36,6% so với cùng kỳ.

Đóng góp lớn nhất vào tổng thu nhập hoạt động của toàn ngân hàng tiếp tục là nguồn thu nhập lãi thuần, đạt 22.428 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ đã tăng trưởng ấn tượng tới 93,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 1.942 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2019, cho thấy ngân hàng vẫn tiếp tục thực hiện tốt chiến lược đa dạng hóa nguồn thu và giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn thu lãi thuần.

Chất lượng tài sản tiếp tục cải thiện

Tính đến cuối tháng 9/2019, nợ xấu hợp nhất của VPBank đang ở mức 3,10%. Tỷ lệ này đã giảm từ 4,24% tại thời điểm một năm trước đó. Mức giảm ở tỷ lệ nợ xấu sẽ rõ ràng hơn nếu nhìn riêng vào ngân hàng mẹ và công ty tài chính FE Credit. Cụ thể, nợ xấu của ngân hàng VPBank riêng lẻ giảm xuống còn 2,45% cuối quý 3/2019. Trong cùng quãng thời gian đó, nợ xấu của FE Credit cũng giảm từ 6,36% xuống 5,21% cuối quý 3/2019.

Hoạt động xử lý nợ từ VAMC tiếp tục được ngân hàng đẩy mạnh trong quý 3, đưa dư nợ trái phiếu VAMC giảm hơn 70% so với thời điểm cuối năm 2018, từ hơn 3.100 tỷ xuống còn dưới 908 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu được giữ ở mức thấp, cùng với số nợ tại VAMC được xử lý mạnh trong năm 2019 sẽ cải thiện đáng kể chất lượng tài sản, giúp đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận của VPBank ổn định trong thời gian tới.

Hiệu quả hoạt động được nâng cao

Chi phí hoạt động (OPEX) hợp nhất trong 9 tháng đầu năm của VPBank tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2018, thấp hơn so với tốc độ tăng doanh thu là 19,1%. Điều này góp phần đưa chỉ số chi phí hoạt động trên thu nhập (CIR) xuống còn 34,7% so với mức 35,8% trong nửa đầu năm.

Sự cải thiện về các chỉ số chi phí là kết quả của những điều chỉnh trong mô hình tổ chức kinh doanh và hoạt động vận hành được tiến hành từ cuối năm 2018.

Đặc biệt, mức độ tối ưu hóa chi phí hoạt động được thực hiện mạnh mẽ ở ngân hàng mẹ, giúp chi phí hoạt động của ngân hàng riêng lẻ chỉ tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước và thậm chí chi phí hoạt động của quý 3 đã giảm 4,3% so với quý 2. Chỉ số CIR của ngân hàng mẹ cũng giảm từ 41,3% ở thời điểm cuối tháng 6/2019 xuống còn 38,8% cuối tháng 9/2019.

Lợi nhuận tăng đã nâng cao thêm các chỉ số về hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) ở thời điểm cuối tháng 9/2019 là 2,3%, cao hơn so với 2,1% trong nửa đầu năm.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 20,4% cuối quý 3/2019, cao hơn mức 19% trong 6 tháng đầu năm. Hệ số an toàn vốn của ngân hàng theo chuẩn Basel II đạt 11,4% tính đến cuối tháng 9, vẫn duy trì ở mức cao so với yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.

Sự cải thiện ở hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản sẽ là nền tảng vững chắc để VPBank tiếp tục đà tăng trưởng trong quý cuối cùng của năm 2019 và trong thời gian tiếp theo.

CK

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400