Vững tay chèo trước sóng cả

11:47 | 25/01/2023

2023 và có thể những năm tiếp theo trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 của chúng ta có thể nhìn thấy trước là khó khăn khi kinh tế thế giới sẽ còn gặp rất nhiều rủi ro. Vì vậy chúng ta phải có các kịch bản để đủ sức ứng phó với những biến động của kinh tế và chính trị thế giới...

vung tay cheo truoc song ca Điều hành chính sách tiền tệ: Kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng
vung tay cheo truoc song ca Các tổ chức tài chính quốc tế tin tưởng Việt Nam sẽ vượt qua những thách thức trong năm 2023
vung tay cheo truoc song ca Thủ tướng chỉ đạo các nhiệm vụ điều hành kinh tế vĩ mô, tăng cường niềm tin của người dân, doanh nghiệp
vung tay cheo truoc song ca
Dòng vốn tín dụng được tập trung vào sản xuất - kinh doanh, qua đó hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng

Thế giới đã trải qua những biến động phức tạp và khó lường, với nhiều yếu tố bất định, đặc biệt cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine nổ ra từ tháng 3/2022 đến nay chưa có hồi kết; đứt gãy chuỗi cung ứng kéo dài trên diện rộng; giá năng lượng, lương thực và nhiều nguyên liệu đầu vào tăng cao... đã dẫn đến tình trạng lạm phát cao kỷ lục tại nhiều quốc gia, khiến họ phải đẩy nhanh tiến trình thu hẹp chính sách tiền tệ (CSTT) và tài khóa để kiểm soát lạm phát... Trong bối cảnh đó, bằng bản lĩnh, sự tự tin và sử dụng nhuần nhuyễn nhiều công cụ, giải pháp, NHNN Việt Nam đã hóa giải thách thức, đạt được thành công đáng kể, tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh kinh tế của đất nước. Năm 2023, dự báo sẽ còn nhiều "sóng gió” gây áp lực cho nhà điều hành. Phóng viên TBNH xin trích dẫn nhận định cũng như những khuyến nghị của các chuyên gia kinh tế, tài chính đối với điều hành CSTT của NHNN.

TS. Nguyễn Đức Kiên - Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng:

Đóng góp thầm lặng của điều hành chính sách tiền tệ

vung tay cheo truoc song ca
TS. Nguyễn Đức Kiên

Thành công lớn nhất của CSTT Việt Nam năm 2022 là giữ được chỉ số lạm phát trong phạm vi cho phép. Đó là một tiền đề rất quan trọng để giúp cho ổn định kinh tế vĩ mô và tạo đà cho tăng trưởng cao của năm 2022.

Một trong những thành công khá thầm lặng trong điều hành CSTT năm 2022 chính là việc NHNN tiếp tục đàm phán với các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ trong việc đưa Việt Nam chính thức ra khỏi danh sách quốc gia thao túng tiền tệ, nhờ đó chúng ta không phải chịu các biện pháp giám sát phòng vệ theo Điều 301 Luật Thương mại của Hoa Kỳ. Thành công này đã tạo cơ sở cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường cho xuất khẩu. Cũng chính nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2022, đặc biệt thị trường Mỹ, duy trì tốt. Thặng dư thương mại được duy trì ở mức cao trong bối cảnh kinh tế khó khăn đã tạo dư địa để công tác điều hành vĩ mô đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là việc làm rất âm thầm của ngành Ngân hàng nhưng lại có giá trị lớn đối với nền kinh tế.

2023 và có thể những năm tiếp theo trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 của chúng ta có thể nhìn thấy trước là khó khăn khi kinh tế thế giới sẽ còn gặp rất nhiều rủi ro. Vì vậy chúng ta phải có các kịch bản để đủ sức ứng phó với những biến động của kinh tế và chính trị thế giới. Đối với ngành Ngân hàng, việc đầu tiên phải làm trong năm 2023 và những năm tiếp theo là tiến hành tái cơ cấu các TCTD yếu kém để từng bước hạ lãi suất huy động và lãi suất cho vay ở Việt Nam; trước mắt là trở lại mức lãi suất thời kỳ 2018-2019. Vấn đề thứ hai là phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình số hoá trong ngành Ngân hàng. Trong đó cần mạnh dạn lấy ý kiến các cơ quan có thẩm quyền để tổ chức thành lập, thí điểm mô hình ngân hàng số theo các hướng hình thành một số ngân hàng hoạt động hoàn toàn trên nền tảng internet, nhằm thí điểm mô hình cung ứng tín dụng cho các đối tượng yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ của Việt Nam. Đây là một khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi NHNN và các NHTMCP dành nguồn lực cả về tài chính và nhân sự đủ lớn để thực hiện.

TS. Trương Văn Phước - Nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia:

Linh hoạt trong thế giới bất định

vung tay cheo truoc song ca
TS. Trương Văn Phước

Trên quan điểm, định hướng chỉ đạo điều hành của Chính phủ là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế trong tình hình mới, NHNN đã chủ động thực hiện CSTT thận trọng, chắc chắn, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả thông qua nhiều giải pháp có tính chất đồng bộ, kịp thời và hiệu quả. Chẳng hạn, trong quý IV/2022, NHNN đã hai lần điều chỉnh tăng các mức lãi suất điều hành với liều lượng mỗi lần 1%; nới biên độ tỷ giá từ mức +- 3% lên +- 5% đồng thời điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm để hoá giải áp lực lên tỷ giá. Đồng thời nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng linh hoạt để bơm hút tiền, bảo đảm thanh khoản của các TCTD và nền kinh tế bên cạnh điều chỉnh thận trọng chỉ tiêu hạn mức tín dụng cho các NHTM phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô.

Nhờ thực hiện đồng bộ, kịp thời và hiệu quả các giải pháp mà thị trường tiền tệ những tháng cuối năm đã dần đi vào ổn định, thanh khoản của các TCTD được bảo đảm. Sau khi lãi suất huy động và cho vay chịu áp lực tăng trong một thời gian ngắn, tình hình đã được kiểm soát trở lại khi NHNN có giải pháp hỗ trợ thanh khoản, kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, thực hiện đồng thuận mức lãi suất huy động tối đa. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được chỉ đạo hướng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, kiểm soát rủi ro tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Việc bảo đảm được ổn định hệ thống ngân hàng và kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng quan trọng để NHNN tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng.

Sang năm 2023, kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng chậm lại, trong khi lạm phát chỉ có thể giảm dần từ nửa cuối năm 2023 và cần thời gian dài hơn để trở về mức mục tiêu. Đứng trước tình hình này, công tác điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong nước vẫn phải tiếp tục đề cao tính chủ động, linh hoạt sáng tạo, kịp thời và hiệu quả để có thể bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện bất định. Về phía CSTT, NHNN cần tiếp tục điều hành thận trọng, chắc chắn, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả và tăng cường phối hợp đồng bộ, hiệu quả với chính sách tài khóa để đảm bảo các mục tiêu kinh tế - xã hội của năm 2023. Trọng tâm của ngành Ngân hàng sẽ là tăng trưởng tín dụng và cung tiền hợp lý để hướng dòng vốn chảy vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và là động lực tăng trưởng của đất nước, đồng thời tăng cường quản lý rủi ro đối với các khoản tín dụng trong các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

TS. Võ Trí Thành – Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia:

Phản ứng kịp thời trước biến động

vung tay cheo truoc song ca
TS. Võ Trí Thành

Năm 2022 điều hành CSTT tiếp tục phải theo đuổi nhiều mục tiêu thời kỳ hậu Covid-19: vừa góp phần phục hồi tăng trưởng kinh tế vừa góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có lạm phát, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Sự hiệu quả trong điều hành CSTT của NHNN trong năm 2022 đã phản ánh qua kết quả kinh tế như tăng trưởng GDP khá cao, trong khi lạm phát so với nhiều nước ở mức tương đối thấp; hệ thống ngân hàng nhìn chung hoạt động tương đối an toàn mặc dù có chút rung lắc ở một số ngân hàng trong giai đoạn cuối năm.

Nhưng nhìn từ bức tranh chung thấy còn những vấn đề cần tiếp tục xem xét, điều chỉnh. Điều này đặc biệt cần thiết khi thế giới tiếp tục có những diễn biến khó lường, bất trắc, tác động nhiều chiều vào kinh tế - xã hội Việt Nam. Chẳng hạn như tín dụng nửa đầu năm tăng mạnh, đặc biệt tín dụng trung, dài hạn. Diễn biến này thích hợp với phục hồi mạnh mẽ sau khi chúng ta mở cửa trở lại. Nhưng việc tín dụng tăng nhanh lại cộng hưởng với cú sốc về áp lực lên lạm phát, tỷ giá, lãi suất lại làm tăng áp lực lên thị trường tiền tệ, khiến cho chính sách rất dễ bị đảo chiều.

Phải khẳng định rằng, trong quá trình điều hành chính sách NHNN đã bám sát tình hình, linh hoạt điều chỉnh, có ưu tiên trọng điểm để giảm áp lực lên tỷ giá, lạm phát, lãi suất. Song do những vấn đề nêu trên và các cú sốc dồn vào thời điểm cuối năm nên một lần nữa cho thấy việc phát triển các công cụ chính sách mang tính thị trường và bớt hành chính hơn đã đặt ra nhiều năm cần phải đẩy nhanh hơn nữa. Ngoài ra, vấn đề phối hợp CSTT và tài khoá vẫn chưa được nhịp nhàng nên có thời điểm thị trường tài chính tiền tệ căng thẳng thanh khoản.

vung tay cheo truoc song ca

Nhìn về phía trước, mặc dù có những tín hiệu dịu bớt ít nhiều như dự báo lạm phát có thể qua đỉnh, một số nước chính sách bớt diều hâu giảm tần suất tăng lãi suất… nhưng thách thức lên cơ quan điều hành vẫn còn rất lớn. Trong bối cảnh đó, NHNN phải đặt ra nhiều kịch bản khác nhau để phản ứng kịp thời nhằm giảm tác động tiêu cực, đồng thời nắm bắt cơ hội để có thể cùng lúc đạt ba mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục đóng góp cho quá trình phục hồi kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống.

Điều chắc chắn để đạt được các mục tiêu trên sẽ thách thức hơn khi mà dư địa CSTT hạn hẹp. Trong khi phải theo đuổi nhiều mục tiêu nên việc lựa chọn thế nào, cân bằng các mục tiêu cũng là thách thức đối với NHNN. Thông thường trong giai đoạn phục hồi, áp lực tăng trưởng khá lớn nên chúng ta cần lựa chọn từng thời điểm, tăng tính linh hoạt trong chính sách; đồng thời tăng khả năng giải trình để thị trường hiểu hơn thông điệp chính sách của nhà điều hành rất quan trọng. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa CSTT và chính sách tài khoá phải nhịp nhàng hơn. Phối hợp làm sao khai thác tốt vị thế chính sách tài khoá, và vẫn tạo độ linh hoạt cho CSTT hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, NHNN và Bộ Tài chính phối hợp xử lý những vấn đề khó khăn, bất ổn trên thị trường trái phiếu, đặc biệt là tạo dựng niềm tin đối với thị trường TPDN.

Cũng bởi dư địa CSTT hạn hẹp nên động lực phục hồi tăng trưởng kinh tế đặt lên vai chính sách tài khoá trong thời gian tới như thúc đẩy đầu tư công, thay đổi phù hợp chương trình hồi phục kinh tế. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh năm tới xuất khẩu sẽ giảm tốc đáng kể.

Cuối cùng là việc tiếp tục cải cách CSTT theo hướng thị trường hơn; cũng như tái cấu trúc hệ thống TCTD rất quan trọng. Bài học trong năm qua cho thấy việc chuyển dần công cụ CSTT mang tính thị trường hơn đã phát huy hiệu quả cho hoạt động của hệ thống ngân hàng.

TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện kinh tế tài chính - Bộ Tài chính:

CSTT phối hợp nhịp nhàng với CSTK

vung tay cheo truoc song ca
TS. Nguyễn Đức Độ

Trong năm 2022 CSTT đã phối hợp nhịp nhàng với chính sách tài khóa (CSTK) để kiểm soát lạm phát trung bình ở mức khoảng 3%, thấp hơn nhiều so với các nước phát triển như Mỹ và EU. Các giải pháp đã tập trung vào nguyên nhân cốt lõi của lạm phát trong năm 2022 là chi phí đẩy và chúng ta đã thành công. Đây cũng là điểm khác biệt trong chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam so với nhiều nước khác trên thế giới.

Việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp là điều kiện tiên quyết để ổn định lãi suất và tỷ giá. Trong các tháng 9, tháng 10/2022, do Fed tăng mạnh lãi suất, đồng USD tăng giá, cũng như áp lực về dự trữ ngoại hối, nên NHNN đã cho phép tỷ giá dao động mạnh hơn. Nhưng về tổng thể biến động của tỷ giá USD/VND vẫn ở mức thấp hơn so với nhiều đồng tiền trên thế giới. Tất nhiên, cũng phải thấy rằng sự ổn định của tỷ giá USD/VND trong những tháng cuối năm 2022, một mặt nhờ NHNN đã thắt chặt cung tiền, tăng lãi suất, mặt khác, là do đồng USD đã giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế.

Trong năm 2023, kinh tế Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều khó khăn. Trước hết là kinh tế toàn cầu có thể rơi vào suy thoái, từ đó ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung. Tiếp đó, áp lực về lạm phát cũng sẽ cao hơn so với năm 2022 do tỷ giá USD/VND biến động mạnh trong năm 2022. Thêm vào đó, các doanh nghiệp bất động sản cũng sẽ gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp bị đóng băng. Trong bối cảnh đó, sức ép nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng cũng sẽ gia tăng.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế vĩ mô hiện nay và trong năm sau cũng có điểm tích cực, đó là xu hướng giảm giá USD trên thị trường quốc tế và trong nước. Khi USD giảm giá, tình trạng găm giữ ngoại tệ sẽ giảm bớt, NHNN có thể tăng mua USD, bơm thanh khoản cho hệ thống, giảm sức ép đối với lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế. Ngoài ra, tỷ giá USD/VND giảm cũng sẽ giúp sức ép lạm phát hạ nhiệt.

vung tay cheo truoc song ca

TS. Nguyễn Hữu Huân – Trưởng bộ môn thị trường Tài chính – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh:

NHNN đã hoàn thành “tròn vai”

vung tay cheo truoc song ca
TS. Nguyễn Hữu Huân

Đánh giá về hiệu quả điều hành CSTT trong năm 2022, theo tôi NHNN làm khá “tròn vai” thể hiện qua nhiều chỉ tiêu đạt được như tăng trưởng, lạm phát. Thành công nổi bật nữa là tỷ giá mặc dù chịu áp lực lớn, mất giá cao hơn so với năm ngoái nhưng so với các nước trên thế giới, VND là một trong những đồng tiền được đánh giá ổn định.

Có thể nói cách thức ứng xử trong điều hành rất phù hợp. Chẳng hạn có giai đoạn dù rất rõ nền kinh tế giai đoạn thiếu thanh khoản, nhưng NHNN vẫn kiên định chưa nới room bơm thêm vốn cho nền kinh tế mà chờ đợi thời cơ phù hợp do tỷ giá tăng mạnh, áp lực lạm phát... Việc chấp nhận đánh đổi cơ hội tăng trưởng để ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô là phù hợp vì tỷ giá là chốt chặn cuối cùng để đảm bảo mục tiêu này. Và ngay khi tỷ giá ổn định, áp lực nhập khẩu lạm phát giảm, nhất là giai đoạn cuối năm doanh nghiệp rất cần vốn đầu tư, NHNN đã quyết định nới room tạo thêm dư địa tín dụng cho các ngân hàng cho vay nhiều hơn giúp cho nhiều doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Phải khẳng định nhờ sự chèo lái CSTT hiệu quả, linh hoạt, phù hợp, bám sát diễn biến thị trường đã đạt được nhiều thành tựu trong năm nay. Tuy nhiên, đối với thị trường biến động bất kỳ điều chỉnh chính sách nào cũng có hai mặt. Chẳng hạn như để kiểm soát lạm phát cũng như đảm bảo ổn định tỷ giá bắt buộc NHNN phải điều hành chính sách thắt chặt, phải hy sinh tăng trưởng. Trong khi ở thị trường vốn, mà cụ thể thị trường TPDN gần như đóng băng nên làm tăng gánh nặng cấp vốn của nền kinh tế lên vai ngân hàng...

Bước sang năm 2023, kinh tế Việt Nam vẫn phải chịu áp lực cả bên trong và bên ngoài. Với bên ngoài, những bất định trên thế giới rất khó lường nhưng áp lực bên trong chúng ta có thể giải quyết được. Điều quan trọng nhất theo tôi, là phải xử lý dứt điểm câu chuyện trái phiếu trong quý I/2023. Nếu câu chuyện trái phiếu không được giải quyết có thể gây rủi ro lớn đối với nền kinh tế. Để xử lý thị trường TPDN, tôi cho rằng, trách nhiệm chính thuộc về Bộ Tài chính. Song nếu có sự vào cuộc của NHNN cùng với chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ để đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn, xử lý triệt để vấn đề bất cập thì thị trường TPDN mới hồi phục, cả hệ thống tài chính mới phát triển lành mạnh bền vững được.

Nhóm phóng viên thực hiện

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700