Xuất siêu lớn: Mừng ngắn, lo dài

09:15 | 23/09/2020

Đến hết ngày 15/9, cán cân thương mại của Việt Nam đã thặng dư tới 14,46 tỷ USD. Theo các chuyên gia, điều này cho thấy dấu hiệu tích cực về mặt số liệu trong ngắn hạn, nhưng đồng thời lại là chỉ báo đáng lo ngại những tháng còn lại của năm 2020 và đặc biệt là các năm tiếp theo. 

Ban hành biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam để thực hiện EVFTA
Nửa đầu tháng 9 xuất siêu gần 1 tỷ USD
Xuất khẩu được dự báo sẽ tiếp tục gặp khó vì Covid-19

Tích cực nhưng lo

“Đến cuối năm nay, xuất siêu nhiều khả năng tiếp tục xu hướng ở các mức cao kỷ lục”, TS. Lê Quốc Phương - nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công thương) đưa ra nhận định ngay khi bắt đầu cuộc trao đổi với Thời báo Ngân hàng. Thông thường, với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, việc hàng năm ghi nhận con số nhập siêu sẽ là điều thường (vì nhu cầu nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu đầu vào sản xuất… luôn cao để phục vụ phát triển, hiện đại hóa kinh tế).

Tuy nhiên, liên tục trong những năm trở lại đây, Việt Nam luôn ở vị thế xuất siêu. Theo TS. Lê Quốc Phương và nhiều chuyên gia khác, trong bối cảnh hầu hết các nền kinh tế đang chịu tác động tiêu cực bởi đại dịch Covid-19 và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung mà duy trì được xuất siêu là điều đáng mừng. Còn nhớ vào kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa IV tháng 11/2019, với nhận định xuất khẩu sẽ khó khăn hơn, Chính phủ trong dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 đã trình Quốc hội chỉ tiêu nhập siêu trong 2020 - sau 4 năm liên tục xuất siêu trước đó - và sau đó Quốc hội thông qua Nghị quyết, trong đó nhất trí về tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3% trong năm nay. Nhắc lại để thấy về mặt số liệu, con số 14,47 tỷ USD xuất siêu đến hết ngày 15/9/2020 – tức đã vượt mức xuất siêu 9,9 tỷ USD của cả năm 2019 – là rất tích cực.

Tuy nhiên, khi nhìn sâu vào số liệu và các yếu tố cấu thành để có được mức xuất siêu kỷ lục đó, các chuyên gia lại nêu ra những điểm đáng lo ngại, nhất là khi xuất siêu tăng mạnh, nhưng không đến từ tăng trưởng mạnh của xuất khẩu, mà do nhập khẩu giảm đi. TS. Lê Quốc Phương chỉ ra, hiện  trong cấu phần nhập khẩu thì có tới 90% là máy móc, nguyên vật liệu đầu vào sản xuất. Như vậy, giảm nhập khẩu đồng nghĩa sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, xuất khẩu trong tương lai.

Đồng quan điểm trên, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng cho rằng, xuất siêu tăng mạnh là tích cực nhưng tăng do nhập khẩu giảm lại là vấn đề đáng lo. Bởi rất nhiều hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam là từ nhập khẩu các nguyên vật liệu đầu vào. “Nếu nhập khẩu tiếp tục giảm sẽ dẫn đến thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất và xuất khẩu hàng hóa đầu ra trong tương lai”, TS. Hiếu nói. 

Hướng đến phát triển nội lực

Một số liệu khác cũng liên quan và phản ánh xu hướng đáng lo ngại này là chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP). 8 tháng đầu năm 2020, chỉ số IIP chỉ tăng 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,5% của cùng kỳ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 3,7% (trong khi cùng kỳ năm 2019 tăng 10,6%). Nguyên nhân chính của sự sụt giảm mạnh này đến từ cả phía cầu và phía cung. Việc đứt gãy chuỗi cung ứng vì Covid-19 khiến nguồn cung nguyên vật liệu khó khăn, trong khi đó về phía cầu, do nhu cầu của các thị trường đối với hàng hóa giảm mạnh, các doanh nghiệp không có đơn hàng dẫn đến sản xuất giảm, biểu hiện rất rõ ở các mặt hàng xuất khẩu lớn như dệt may, da giày…

“Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp hơn, tôi e là sản xuất công nghiệp khó có thể phục hồi mạnh được trong những tháng còn lại của năm nay”, TS. Lê Quốc Phương lo ngại.

Tuy tái khẳng định xuất siêu vẫn ở mức cao song TS. Lê Quốc Phương cho rằng bối cảnh đang có những thay đổi. Theo đó, dù không còn vướng mắc về nguồn cung nhập khẩu hàng hóa đầu vào song vẫn vướng về xuất khẩu hàng hóa đầu ra. “Những tháng đầu năm nay, xuất siêu tăng do xuất khẩu không tăng mạnh trong khi nhập khẩu giảm đi. Còn hiện nay, do các thị trường nhập khẩu nguyên liệu đầu vào chính của Việt Nam là Trung Quốc và Hàn Quốc tình hình đã ổn định trở lại, nên lo ngại về nguồn cung hàng hóa nguyên liệu đầu vào chúng ta không còn lớn nữa. Mặc dù vậy, do cầu đầu ra vẫn khó khăn nên nhiều khả năng nhập khẩu sẽ khó tăng mạnh”, TS. Phương dự báo.

Các chuyên gia cùng chung nhận định rằng, diễn biến xuất – nhập khẩu, xuất siêu thời gian tới biến động thế nào sẽ phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến dịch Covid-19. Đã có nhiều cảnh báo về diễn biến dịch sẽ phức tạp hơn trên toàn cầu khi mùa đông đã cận kề và dù thế giới có nhanh chóng sản xuất thành công được các loại vắc xin thì tác động tích cực đối với phục hồi thương mại và kinh tế chỉ có thể thấy rõ sớm nhất từ năm 2021.

Và trong ngắn hạn, khi các doanh nghiệp đánh giá dịch bệnh còn phức tạp tại các thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta như Mỹ, EU dự kiến triển vọng xuất khẩu tiếp tục gặp khó, thì họ cũng không thể mạnh tay nhập khẩu để phục hồi sản xuất. Điều này dẫn tới một nguy cơ khác là việc làm, thu nhập của người lao động cũng bị giảm theo.

Để hướng đến xuất siêu bền vững hơn, các chuyên gia cho rằng về dài hạn cần phải phát triển được nội lực trong nước. “Chỉ khi nào khu vực doanh nghiệp trong nước xuất siêu thì khi đó xuất siêu mới bền vững và Việt Nam mới thực sự được hưởng lợi từ vị thế xuất siêu đó”, TS. Lê Quốc Phương nhận định.

Trong khi đó theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, một mặt cần đa dạng các thị trường xuất khẩu để tránh phụ thuộc vào một vài thị trường lớn, mặt khác cần hướng nhiều hơn đến thị trường trong nước để tiêu thụ các hàng hóa sản xuất ra. Ngoài ra, cần có các chính sách và biện pháp quyết liệt hơn để các doanh nghiệp FDI thực sự gắn kết, lan tỏa tới phát triển của các doanh nghiệp trong nước.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.955 23.155 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.947 23.157 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.960 23.140 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.140 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.945 23.166 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.948 23.148 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.960 23.140 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.980 23.140 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.750
56.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.750
56.100
Vàng SJC 5c
55.750
56.120
Vàng nhẫn 9999
52.050
52.650
Vàng nữ trang 9999
51.650
52.350