22:02 | 06/10/2017

Ấn tượng và kỳ vọng

Theo WB, triển vọng kinh tế trung hạn của Việt Nam vẫn được đánh giá là tích cực và dự báo tốc độ tăng trưởng trong trung hạn sẽ ổn định quanh mức 6,4% trong giai đoạn 2018–2019 đi kèm với ổn định kinh tế vĩ mô nói chung.

HSBC: Tăng trưởng kinh tế quý III vượt kỳ vọng
Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững
Kinh tế Việt Nam vẫn khả quan

Bất ngờ nhưng có thể lý giải được

Theo thống kê của các chuyên gia, mức tăng trưởng 7,46% trong GDP quý III/2017 được ghi nhận là quý III có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Với những dự báo, đánh giá ngay từ đầu năm là mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% năm nay sẽ rất khó khăn và thực tế quý I, quý II khá thấp thì mức tăng trưởng cải thiện mạnh trong quý III vừa qua thực sự vượt kỳ vọng và gây bất ngờ.

Dù bất ngờ với mức tăng trưởng gần 7,5% trong quý III nhưng các chuyên gia của Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC cho biết, điều này có thể lý giải được khi hoạt động xuất khẩu và sản xuất công nghiệp tích cực, lượng khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh mẽ, nông nghiệp phục hồi mạnh… Những yếu tố này đã góp phần đưa nền kinh tế phát triển vượt bậc trong quý III và sẽ tiếp tục được duy trì trong quý IV.

Đáng chú ý, chỉ số PMI tháng 9 đã tăng từ 51,8 điểm của tháng trước lên 53,3 điểm nhờ vào đơn đặt hàng mới và việc làm cao. “Kết quả này càng củng cố quan điểm của chúng tôi rằng tăng trưởng của Việt Nam sẽ còn rất tốt cho đến cuối năm”, báo cáo nhấn mạnh và dự báo: Với những số liệu tích cực thu thập được trong khoảng thời gian gần đây, HSBC điều chỉnh mức dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2017 lên 6,6%. Việc đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,7% do Chính phủ đề ra trong năm nay (hoặc ít nhất là gần đạt được) sẽ giúp cho Việt Nam có thể giảm nguy cơ nợ công vượt trần.

Còn Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì nhận định: Trong quý IV, cầu tiêu dùng, cầu đầu tư sẽ tăng mạnh hơn khi tốc độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản được đẩy nhanh. Đồng thời, xuất khẩu nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng mạnh hơn do những diễn biến thuận lợi của tình hình kinh tế thế giới cũng như tăng trưởng thương mại toàn cầu. Do đó, tiếp đà phục hồi mạnh của quý II và quý III, dự báo tăng trưởng quý IV sẽ đạt khoảng 7,5-7,7%. Tăng trưởng GDP cả năm có thể đạt trên 6,7%.

Ở mức độ “kém lạc quan” hơn, báo cáo cập nhật triển vọng kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) của WB công bố ngày 4/10/2017 vẫn giữ nguyên dự báo mức tăng trưởng của Việt Nam năm nay ở mức 6,3%. Tuy nhiên tổ chức này cũng ghi nhận, tăng trưởng của Việt Nam có cải thiện so với năm 2016 nhờ cầu trong nước; sản xuất nông nghiệp, ngành chế biến chế tạo hướng về xuất khẩu tăng do cầu bên ngoài hồi phục. Áp lực lạm phát dự kiến ở mức vừa phải do lạm phát lõi ổn định và đã có sự phối hợp điều chỉnh giá dich vụ, hàng hóa do nhà nước quản lý.

Nhìn về xa hơn

Dù tỏ ra khá phấn khởi với kết quả tăng trưởng quý vừa qua nhưng TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia TC-NH cho rằng cũng còn một số điểm cần lưu ý trong quý IV và năm tới. Trong đó, một mặt cần xem bài toán tăng trưởng như vậy đã bền vững chưa vì một trong những động lực khá quan trọng cho tăng trưởng quý III vừa qua là nhờ Samsung và Formosa thúc đẩy SXKD, khiến cho xuất nhập khẩu tăng mạnh, sản lượng kim loại tăng mạnh. Mặt khác, cần lưu ý tránh thúc đẩy TTTD quá nhanh, quá nóng bởi phải lưu ý tính toán cả vấn đề thanh khoản NH dịp cuối năm, cũng như các vấn đề liên quan đến chất lượng, hiệu quả tín dụng, hệ số CAR hay câu chuyện lạm phát cuối năm cũng như độ trễ tác động trong năm tới.

Bên cạnh đó, việc cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư là đúng để tránh những hệ lụy đối với tăng trưởng nhưng nhanh thì cũng phải chú ý về vấn đề chất lượng, hiệu quả, đúng quy định và tránh làm ẩu. Ngoài ra, với lộ trình tăng giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà Nhà nước quản lý thì có lẽ tăng giá điện trong quý IV tới là hợp lý hơn cả vì giá dịch vụ y tế, giáo dục đã tăng rất mạnh trong năm nay, còn giá điện trong gần 3 năm vừa qua chưa tăng. Việc tăng giá điện trong quý IV nhiều khả năng sẽ không có tác động quá lớn ngay trong năm nay vì một phần độ trễ sang năm tới.

Trong khi đã có thể tạm yên tâm về khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm nay thì các chuyên gia cho rằng, sự thận trọng và chủ động xây dựng mục tiêu tăng trưởng cho năm sau cũng như tập trung tháo gỡ những nút thắt mang tính cơ cấu là rất quan trọng. Theo WB, triển vọng kinh tế trung hạn của Việt Nam vẫn được đánh giá là tích cực và dự báo tốc độ tăng trưởng trong trung hạn sẽ ổn định quanh mức 6,4% trong giai đoạn 2018–2019 đi kèm với ổn định kinh tế vĩ mô nói chung.

Nhưng các rủi ro trong nước và bên ngoài đòi hỏi Việt Nam phải liên tục áp dụng các biện pháp KTVM cẩn trọng. Nếu muốn duy trì đà tăng trưởng cần phải củng cố ổn định KTVM, tái tạo khoảng đệm chính sách và coi đây là ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, việc giảm thâm hụt tài khóa sẽ giúp kiềm chế rủi ro về bền vững tài khóa và tạo khoảng đệm tài khóa nhằm đối phó với các cú sốc có thể xảy ra trong tương lai. Ngoài ra, cần tiếp tục tăng cường các nghiệp vụ giám sát và quản lý thận trọng nhằm giảm thiểu rủi ro cho khu vực NH trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh.

Về lâu dài, thách thức đối với Việt Nam là duy trì được tăng trưởng với tốc độ cao đi đôi với giảm nghèo bền vững. Tiếp tục đẩy nhanh tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cải cách DNNN, cải thiện môi trường kinh doanh, vận hành tốt thị trường yếu tố sản xuất (đất đai, vốn) sẽ giúp xóa bỏ các rào cản chủ yếu trong  quá trình cải thiện hiệu quả và tăng năng suất lao động.

Theo GS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cần tính toán cho tăng trưởng trong cả 2-3 năm tới chứ không phải chỉ những tháng cuối năm nay và quan trọng nhất là cần hướng tới tăng trưởng bền vững. Theo đó, cần tập trung vào việc cải cách cơ cấu hơn là chạy theo mục tiêu tăng trưởng đơn thuần. Còn cụ thể với mục tiêu tăng trưởng hàng năm, việc đặt ra một mốc cụ thể nên kèm với biên độ, ví dụ mục tiêu là tăng trưởng 6,5% nhưng có biên độ  + 0,2%, như vậy sẽ thuận lợi hơn cho nhà điều hành khi không bị trói chặt vào một mốc mục tiêu tăng trưởng cố định.

Đồng tình với quan điểm này, TS. Lực cho rằng, với các dữ liệu và cơ sở tích cực hơn của nền kinh tế trong năm nay, năm 2018 mục tiêu tăng trưởng GDP có thể đặt ở mức từ 6,5% đến 6,7%. “Như thế thì sẽ có 2 kịch bản: Có thể tăng trưởng ở mức trung bình là 6,5% và tốt là mức 6,7%. Căn cứ theo đó thì các kế hoạch liên quan đến đầu tư công, thâm hụt ngân sách… cũng cần có các kịch bản tương ứng”, TS. Lực đề xuất.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,10
5,20
5,70
5,80
6,30
6,90
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,80
5,70
6,90
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.685 22.755 26.550 26.867 29.666 30.141 19760 20138
BIDV 22.690 22.760 26.540 29.843 29.702 30.146 19842 20139
VietinBank 22.675 22.755 26.515 26.883 29.653 30.194 19815 20164
Agribank 22.675 22.750 26.498 26.831 29.632 30.072 19718 20032
Eximbank 22.670 22.760 26.503 26.849 29.768 30.156 19885 20145
ACB 22.690 22.760 26.525 26.858 29.882 30.181 19908 20158
Sacombank 22.683 22.765 26.568 26.929 29.869 30.227 19902 20209
Techcombank 22.670 22.770 26.340 27.062 29.432 30.252 19772 20357
LienVietPostBank 22.660 22.750 26.537 26.853 29.793 30.053 198,50 200,21
DongA Bank 22.680 22.750 26.530 26.830 29.730 30.060 197,60 200,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.360
36.580
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.360
36.560
Vàng SJC 5c
36.360
36.580
Vàng nhẫn 9999
35.370
35.770
Vàng nữ trang 9999
35.070
35.770