14:45 | 10/08/2017

Cập nhật thị trường toàn cầu ngày 10/8/2017

Chứng khoán châu Á sụt giảm, đảo chiều tăng đầu phiên; đồng won của Hàn Quốc giảm vì căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên khiến các nhà đầu tư không khỏi lo ngại.

Cổ phiếu từ Hong Kong đến Tokyo, Sydney đã giảm và các chỉ số chứng khoán tương lai của Mỹ sụt giảm, khi đồng won Hàn Quốc dẫn đầu đà giảm của các đồng tiền của các thị trường mới nổi. Mức độ biến động của cổ phiếu tăng lên và đồng Yên tăng. Các tài sản an toàn khác giữ ở gần mức đóng cửa ngày Thứ Tư, khi ý kiến ​​của các quan chức chính phủ Hoa Kỳ giúp giảm bớt sự lo ngại về việc đang hướng tới cuộc xung đột vũ trang với Bắc Triều Tiên. Thị trường chứng khoán tương lai châu Âu và đồng euro sụt giảm.

“Tình hình Bắc Triều Tiên vẫn không ổn định và các nhà đầu tư đang kiểm soát rủi ro và chốt lời sau những thành công gần đây”, Sam Chi Yung - một nhà chiến lược cao cấp tại Hồng Kông thuộc South China Financial Holdings Ltd nói.

Những căng thẳng địa chính trị có thể là động lực thúc đẩy tâm lý phòng ngừa rủi ro, nhưng với việc các cổ phiếu trên thị trường thế giới vẫn giao dịch gần mức cao kỷ lục, một số tên tuổi lớn nhất trong ngành quản lý tài sản cảnh báo rằng, đã đến lúc đưa rủi ro khỏi bàn.

Pimco nói với các nhà đầu tư cắt bớt trái phiếu Mỹ và trái phiếu rác, nhưng tiếp tục hướng đến tài sản thực, như nợ liên quan đến lạm phát, hàng hóa và vàng. T. Rowe Price cắt giảm lượng cổ phiếu xuống mức thấp nhất kể từ năm 2000. Sự sụt giảm mạnh của trái phiếu rác tại Mỹ trong thời gian gần đây có thể là sự khởi đầu cho sự điều chỉnh của chứng khoán, và các nhà đầu tư nên cân nhắc việc đánh cược vào thị trường, các nhà chiến lược Morgan Stanley khuyến cáo.

Các nhà đầu tư cũng đang chờ đợi thêm nhiều đầu mối về chính sách tiền tệ và tăng trưởng kinh tế của Mỹ qua bài phát biểu của Chủ tịch Fed New York, ông William Dudley, trước thông tin lạm phát đến vào thứ Sáu. Chủ tịch Fed Chicago Charles Evans cho biết, việc thông báo kế hoạch giảm bớt bảng cân đối tài sản của Fed trong tháng tới là “hoàn toàn hợp lý”, trong khi cảnh báo rằng số liệu lạm phát đáng thất vọng có thể trì hoãn tăng lãi suất.

Những thông tin đáng chú ý sắp tới:
Ngân hàng Trung ương Philippine có lẽ sẽ giữ lãi suất chuẩn ở mức 3% vào thứ Năm trong cuộc họp đầu tiên dưới sự chủ trì của Thống đốc Nestor Espenilla.
Số liệu về sản lượng sản xuất tháng 6 tại Mỹ và sản lượng công nghiệp của Pháp sẽ được công bố vào Thứ Năm.
Chủ tịch Fed New York William Dudley sẽ có bài phát biểu mở đầu tại Hội nghị Báo cáo Kinh tế về sự bất bình đẳng tiền lương trong khu vực ở thành phố New York, tiếp theo đó sẽ là phiên hỏi - đáp.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
Chỉ số Topix của Nhật giảm gần 0,1% trong khi chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 0,4%, sau khi giảm 1,1% trong phiên giao dịch thứ Tư. Chỉ số Hang Seng tại Hồng Kông giảm 0,9% và chỉ số Taiex của Đài Loan giảm 1,3%, rút ​​khỏi mức cao 27 năm hôm thứ Hai.
Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc giảm 0,1%.
Chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương giảm 0,4%.
Hợp đồng tương lai dưa trên chỉ số Euro Stoxx 50 giảm 0,1%.
Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm 0,2% vào lúc 7h22 tại London. Chỉ số cơ bản đóng cửa thấp hơn gần 0,1%.

Tiền tệ:
Đồng won Hàn Quốc giảm 0,6% xuống 1.141,55 KRW/USD - mức thấp nhất trong 4 tuần, trong khi đồng yên tăng 0,1% lên 110 JPY/USD. Đôla Úc giảm 0,1% xuống còn 78,81 UScent.
Đồng euro giảm 0,2% xuống còn 1.1736 USD và chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index tăng 0,1%.
Đồng đôla New Zealand giảm 0,9% xuống còn 72,72 Uscent, xóa đi mức tăng 0,5% sau khi Thống đốc Graeme Wheeler cho biết Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ) muốn thấy tỷ giá hối đoái yếu hơn và sự can thiệp ngoại hối luôn luôn mở cửa cho ngân hàng trung ương. Trợ lý thống đốc RBNZ John McDermott cũng nói rằng kiwi “cần phải điều chỉnh lại”.

Trái phiếu:
Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ giao dịch ở mức 2,24%.
Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc tăng 2 điểm cơ bản lên 2,66%.
Lợi suất trái phiếu 10 năm của Đức ở mức 0,44%. Nó đã giảm 4 điểm cơ bản xuống 0,43% vào Thứ Tư.

Hàng hóa:
- Vàng tăng 0,1% lên mức 1.279,09 USD/oz sau khi giảm xuống 0,2%. Kim loại quý này tăng 1,3% trong phiên giao dịch hôm qua.
Dầu thô WTI tăng 0,3% lên 49,75 USD/thùng vào đầu phiên giao dịch tại châu Âu sau khi tăng 0,8% trong phiên giao dịch trước đó. Lượng hàng tồn kho và sản lượng dầu thô của Hoa Kỳ giảm mạnh, kéo giảm nỗi lo dư cung.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,10
5,20
5,70
5,80
6,30
6,90
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,80
5,70
6,90
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.685 22.755 26.603 26.921 29.749 30.226 199,51 203,33
BIDV 22.680 22.750 26.593 26.900 29.765 30.205 200,18 203,18
VietinBank 22.670 22.750 26.572 26.917 29.745 30.261 200,06 203,40
Agribank 22.675 22.750 26.627 26.960 29.881 30.313 200,48 203,68
Eximbank 22.670 22.760 26.575 26.922 29.862 30.252 200,86 203,48
ACB 22.685 22.755 26.576 26.909 29.954 30.254 200,99 203,51
Sacombank 22.678 22.760 26.616 26.978 29.940 30.297 201,09 204,14
Techcombank 22.680 22.780 26.404 27.003 29.618 30.304 199,97 204,62
LienVietPostBank 22.665 22.755 26.371 26.922 29.950 30.257 199,16 203,53
DongA Bank 22.685 22.755 26.610 26.900 29.900 30.230 200,80 203,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.410
36.630
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.410
36.610
Vàng SJC 5c
36.410
36.630
Vàng nhẫn 9999
35.650
36.050
Vàng nữ trang 9999
35.350
36.050