09:20 | 13/04/2018

Chất lượng hoạt động ngân hàng cải thiện đáng kể

Chất lượng hoạt động của hệ thống NH Việt Nam được đánh giá cao theo chuẩn mực quốc tế

Moody's nâng xếp hạng đối với 4 ngân hàng Việt Nam
Xếp hạng tín nhiệm ngân hàng: Phải đúng người, đúng thời điểm
Tín nhiệm ngân hàng qua lăng kính quốc tế
TS. Lê Xuân Nghĩa

Gần đây, các NH Việt Nam liên tục được nhiều tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín như Moody’s, Fitch Raiting, S&P nâng hạng. Đâu là những yếu tố đã giúp các NH Việt thăng hạng. Phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc trao đổi với Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia TS. Lê Xuân Nghĩa để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Theo ông, vì sao các NH Việt Nam liên tục được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín trên thế giới nâng bậc tín nhiệm?

Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Moody’s, S&P hay Fitch có chuẩn đánh giá khắt khe hơn vì họ dựa nhiều vào chuẩn mực có tính quốc tế cả về quản trị hoạt động và quản trị rủi ro. Điều này chứng tỏ sự cải thiện đáng kể về chất lượng hoạt động của hệ thống NH Việt Nam. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thường sử dụng rất nhiều thông tin, tiêu chí để đánh giá NH.

Trong thời gian qua, các tổ chức xếp hạng trên chủ yếu đánh giá các NH Việt Nam dựa trên 5 tiêu chí chủ yếu (CAMELS). Một là hệ số CAR (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro). Phần lớn các NH được nâng hạng trong thời gian vừa qua đều đã tăng vốn tự có và đảm bảo vượt quy định của NHTW về hệ số CAR 9%. Đây là chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh khả năng chống chịu rủi ro của một NH, đồng thời là nguồn lực chủ yếu để xử lý nợ xấu, nhất là nợ mất vốn (nhóm 5) khi cần.

Hai là, chất lượng tài sản, chủ yếu đánh giá qua tỷ lệ nợ xấu. Những NH được nâng hạng đó đều có tỷ lệ nợ xấu thấp, từ 1,7% đến 2,25% - dưới mức bình quân của cả hệ thống. Sở dĩ có được kết quả tích cực trong xử lý nợ xấu là do hoạt động kinh doanh của các NH này có cải thiện tích cực.

Vì vậy, mà các NH có nguồn dư dả từ Quỹ Dự phòng rủi ro. Các NH đã dùng nó để xử lý nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu được cải thiện đáng kể so với những năm trước đây. Ngoài ra, do một số thay đổi về cơ chế xử lý nợ xấu. Như việc TCTD tích cực triển khai Nghị quyết 42 của Quốc hội về xử lý nợ xấu, các chỉ thị của NHTW về nâng cao chất lượng tài sản; và đặc biệt là tình hình sản xuất kinh doanh được cải thiện.

Bên cạnh đó, thị trường BĐS ấm dần lên cho nên các NHTM có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, từ khung pháp lý cho đến thị trường để giải quyết nợ xấu. Trong vài năm gần đây tăng trưởng tín dụng cũng được phục hồi, đạt bình quân 17-18% cũng góp phần làm tăng tổng tài sản có rủi ro của các NHTM. Nhờ đó giảm được tỷ lệ nợ xấu.

Ba là, các NHTM, đặc biệt là các NH được thăng hạng tín nhiệm đều đang thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của NHNN về nâng cấp hệ thống quản trị NH giảm sở hữu chéo, sở hữu lũng đoạn, tăng cường quản lý rủi ro, quản lý nợ và mở rộng các dịch vụ NH trên nền tảng công nghệ thông tin như Internet Banking, Mobile Banking, và vay tiêu dùng, từng bước tiệm cận chuẩn mực quốc tế đã tạo ra niềm tin vững chắc cho người gửi tiền và các nhà đầu tư.

Bốn là, khả năng sinh lời. Với tất cả nỗ lực nói trên những NH được thăng hạng đã cải thiện vượt bậc khả năng sinh lời, ROA đạt trên 1%, ROE trên 12% tạo ra những bước đột phá về nền tảng tài chính. Trên cơ sở đó các NH có thể đầu tư mạnh hơn vào phát triển công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh lâu dài trên thị trường.

Năm là thanh khoản. Những NH này đều là NH có sự ổn định khá vững chắc về các chỉ tiêu an toàn thanh khoản như là tỷ lệ cho vay/huy động, tỷ lệ khả năng chi trả tức thời và đều là những NH hoạt động hiệu quả trên thị trường liên ngân hàng và thị trường trái phiếu Chính phủ. Góp phần vào sự ổn định về thanh khoản của toàn hệ thống trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây.

Việc thăng hạng của các NH có tác động thế nào đối với nền kinh tế, thưa ông?

Việc các NH được thăng hạng tín nhiệm là kết quả của một quá trình vừa ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi tăng trưởng kinh tế và tái cơ cấu hệ thống NHTM nói riêng và thị trường tài chính nói chung, phản ánh thành công bước đầu của chương trình tái cơ cấu nền kinh tế mà Đảng và Chính phủ đã đặt ra trong những năm qua và trong thời gian tới.

Sự phục hồi khá vững chắc của hệ thống NH đặc biệt là những cải thiện về nền tảng tài chính và quản trị góp phần rất quan trọng vào việc vừa tăng trưởng, và ổn định kinh tế vĩ mô và là một trong những yếu tố quyết định góp phần nâng bậc xếp hạng quốc gia của Việt Nam theo đánh giá của WB.

Vậy, trong thời gian tới các NH cần phải làm gì để tiếp tục được “tín nhiệm” và thăng hạng?

Theo các mục tiêu đã được đặt ra và lộ trình thực hiện đã được khẳng định trong chương trình tái cơ cấu của hệ thống NH thì ngành Ngân hàng Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm nhằm cải thiện hơn nữa về quản trị và tài chính trong những năm tiếp theo. Đặc biệt là trong bối cảnh sức ép cạnh tranh quốc tế gia tăng và sự bùng nổ của công nghệ 4.0, các chỉ tiêu an toàn hoạt động cần phải được cải thiện hơn nữa theo hướng tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu, chuẩn mực kế toán tài chính, chuẩn mực quản trị NH.

Hai là giải quyết dứt điểm các NH yếu kém trên cơ sở Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD mà Quốc hội vừa thông qua nhằm củng cố hơn nữa lòng tin của người gửi tiền và tránh rủi ro hệ thống.

Ba là, hệ thống NH cần phải dành nguồn lực tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo những thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin đang được vận dụng ngày càng rộng rãi hơn vào tất cả các dịch vụ cơ bản của các NH. Ví dụ như công nghệ thanh toán điện tử, công nghệ giám sát từ xa, Internet Banking, Mobile Banking, công nghệ bảo mật an toàn mạng. Đặc biệt là bảo mật tài khoản người gửi tiền. Bốn là, tiếp tục tạo lập hành lang pháp lý và chế tài loại bỏ hoàn toàn sở hữu chéo, sở hữu lũng đoạn vốn là nguyên nhân chủ yếu tạo ra khoản nợ xấu lớn ở một số NHTMCP trước đây và hiện tại vẫn còn là gánh nặng tài chính của nhiều ngân hàng nhỏ.

Tóm lại, việc các NHTM liên tục được thăng hạng tích cực trong thời gian gần đây đã xóa đi những ám ảnh của các nhà đầu tư quốc tế trước đây về nguy cơ bất ổn của hệ thống ngân hàng và của toàn bộ nền kinh tế. Đây là bước cải thiện rất quan trọng về lòng tin của các nhà đầu tư và đặc biệt là của người gửi tiền, tạo nền tảng cốt yếu cho việc thực hiện thành công các bước tiếp theo về cơ cấu hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế theo hướng hội nhập, hiệu quả và ổn định dài hạn.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.735 22.805 27.564 27.893 31.343 31.845 206,32 210,25
BIDV 22.735 22.805 27.598 27.918 31.399 31.865 207,09 210,15
VietinBank 22.723 22.803 27.505 27.883 32.311 31.871 206,79 210,19
Agribank 22.735 22.810 27.728 28.057 31.586 32.020 208,88 212,15
Eximbank 22.720 22.810 27.581 27.940 31.490 31.900 207,77 210,47
ACB 22.740 22.810 27.562 27.908 31.552 31.868 207,67 210,28
Sacombank 22.735 22.817 27.606 27.961 31.548 31.903 207,67 210,71
Techcombank 22.710 22.805 27.315 28.043 31.124 31.976 206,21 211,70
LienVietPostBank 22.720 22.820 27.527 27.988 31.521 31.945 207,37 211,00
DongA Bank 22.740 22.810 27.610 27.920 31.500 31.880 206,30 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
Vàng SJC 5c
36.550
36.770
Vàng nhẫn 9999
36.600
37.000
Vàng nữ trang 9999
36.200
36.800