14:00 | 08/09/2016

Chính sách lãi suất thấp tiềm ẩn nhiều rủi ro

Lãi suất thấp đã và đang khuyến khích người Anh vay nợ nhiều hơn, nhất là các khoản nợ không lành mạnh.

Kinh tế châu Âu chậm lại trong quý 2
Quan chức Fed bảo vệ vai trò của ngân hàng tư nhân tại NHTW
Thụy Sĩ: Lãi suất âm khuyến khích giữ tiền mặt

Giới chuyên gia kinh tế cảnh báo việc Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và nhiều ngân hàng Trung ương lớn trên thế giới duy trì chính sách lãi suất thấp trong thời gian quá lâu sẽ tiềm ẩn nhiều vấn đề kinh tế phức tạp trong dài hạn.

Hạ lãi suất xuống mức thấp, thậm chí siêu thấp, là một chính sách cần thiết không chỉ đối với nước Anh mà với nhiều nền kinh tế lớn trong suốt 10 năm qua, nhằm giúp các nước này đối phó với tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ tại Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) năm 2009.

Ảnh minh họa

Trong cuộc họp tháng trước, BoE đã hạ lãi suất cơ bản từ 0,5% được duy trì trong hơn bảy năm qua xuống còn 0,25%. Trong lịch sử 322 năm hoạt động, chưa bao giờ BoE lại duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ với lãi suất dưới 1% trong một thời gian dài như vậy.

Ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930 và trong suốt Thế chiến thứ I, lãi suất cũng được giữ ổn định quanh mức 2%.

Trước hết, lãi suất thấp là yếu tố làm xói mòn giá trị của các khoản tiết kiệm của người dân. Năm 2010, lãi suất trái phiếu 20 năm của Chính phủ Vương quốc Anh là 4%/năm, cao hơn đáng kể so với mục tiêu lạm phát 2%. Sau cuộc khủng hoảng nợ Eurozone, lãi suất giảm xuống 2,5-3%, và sau quyết định của cử tri Anh rời Liên minh châu Âu (Brexit), lãi suất trái phiếu chính phủ hiện chỉ còn hơn 1%.

Rõ ràng mức lãi suất này không đủ để bù đắp mức độ mất giá của đồng tiền, khiến cho các khoản tiền tiết kiệm của cá nhân và gia đình không mang lại thu nhập. Điều này không khuyến khích người Anh tích lũy và hoàn toàn không có lợi cho kinh tế Anh trong dài hạn.

Tiếp đến, lãi suất thấp có thể gây tác động tiêu cực tới tương lai của hệ thống quỹ hưu trí. Tại nước Anh, các quỹ hưu trí đầu tư phần lớn tài sản vào trái phiếu chính phủ. Thu nhập từ trái phiếu không ngừng giảm trong những năm qua, do chính sách nới lỏng lãi suất đang làm gia tăng gánh nặng thanh toán đối với hệ thống này. Theo báo cáo gần đây của công ty kiểm toán PWC, các quỹ hưu trí đang phải đối mặt với khoản thâm hụt kỷ lục.

Đáng chú ý hơn là lời cảnh báo của giới phân tích rằng lãi suất thấp làm tăng quy mô vay nợ. Chính sách lãi suất thấp kéo dài như hiện nay đang khiến nhiều người lo lắng về khả năng hệ thống tài chính của nước Anh sẽ đi theo vết xe đổ của cuộc khủng hoảng nợ vừa qua ở châu Âu. Lãi suất thấp đã và đang khuyến khích người Anh vay nợ nhiều hơn, nhất là các khoản nợ không lành mạnh.

Một điểm đáng quan ngại nữa là lãi suất thấp có thể làm tái hiện "bong bóng" nhà đất. Rõ ràng, lãi suất thấp trong 5 năm qua đã kích thích thị trường nhà đất “xứ sở sương mù” tăng trở lại. Sau bảy năm suy giảm và "đóng băng" (2008-2013), giá nhà ở nước Anh đã tăng liên tục trong ba năm gần đây và đang tạo ra mối lo ngại về khả năng một “bong bóng” nhà đất mới.

Do vậy, mặc dù biện pháp nới lỏng chính sách hiện vẫn được các nước áp dụng với mục tiêu hỗ trợ đà phục hồi kinh tế, song việc lạm dụng chính sách này trong một thời gian quá dài có thể sẽ phản tác dụng hay thậm chí gieo mầm khủng hoảng trong tương lai.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.785 22.855 26.231 26.545 30.927 30.407 202,93 208,26
BIDV 22.785 22.855 26.238 26.545 29.940 30.395 204,61 207,63
VietinBank 22.775 22.855 26.211 26.589 29.913 30.473 204,40 207,80
Agribank 22.770 22.845 26.173 26.491 29.929 30.349 204,10 207,27
Eximbank 22.780 22.870 26.244 26.586 30.062 30.453 205,32 208,00
ACB 22.800 22.870 26.266 26.595 30.154 30.455 205,28 207,85
Sacombank 22.788 22.873 26.295 26.658 30.138 30.497 205,26 208,33
Techcombank 22.765 22.865 25.998 26.700 29.724 30.546 203,68 208,98
LienVietPostBank 22.770 22.860 26.187 26.633 30.084 30.492 204,61 208,22
DongA Bank 22.790 22.860 26.290 26.590 30.070 30.440 203,80 207,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
36.980
Vàng SJC 5c
36.800
37.000
Vàng nhẫn 9999
35.960
36.360
Vàng nữ trang 9999
35.610
36.310