09:06 | 10/05/2019

Cổ phiếu ngành điện khả quan

Đây là dự báo của các chuyên gia chứng khoán khi đánh giá trên 3 yếu tố: Sản lượng điện sản xuất và thương phẩm của EVN tăng trưởng 10% so với cùng kỳ; Giá bán lẻ điện tăng mạnh 8,36% từ cuối quý I; và khung giá phát điện mới không tác động nhiều lên các DN điện trên sàn.

DN “gồng mình” với giá điện tăng
3 lý do khiến hóa đơn điện tháng 4/2019 tăng

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC), sản lượng điện thương phẩm duy trì tăng trưởng hàng năm ở mức trên 10%. Năm 2018, sản lượng điện thương phẩm của EVN có mức tăng trưởng 10,36%, đạt mức 212,9 tỷ kWh. Đối với năm 2019, dự kiến sản lượng sản xuất mục tiêu của EVN là 232,5 tỷ kWh, tăng 9,2% so với năm 2018.

Mặc dù nhu cầu điện năm 2019 dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng trên 10%, tuy nhiên nguồn cung điện từ các dự án điện mặt trời sẽ kịp hoàn thành trong quý II/2019 để đảm bảo nhu cầu điện năng cho sản xuất và sinh hoạt của năm 2019 (hiện đã có khoảng hơn 2800 MW ký hợp đồng mua bán điện).

Trên thực tế, sản lượng điện thương phẩm 3 tháng đầu năm tăng 9,58% trong đó nhiệt điện than vẫn đóng góp tỷ trọng lớn. Lũy kế 3 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 53,65 tỷ kWh, tăng 9,58% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng điện thương phẩm toàn EVN ước đạt 46,19 tỷ kWh, tăng 9,25% so cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng điện thương phẩm nội địa tăng 9,2%.

Trong quý I, các nhà máy nhiệt điện tua bin khí, nhiệt điện than được khai thác cao để đáp ứng nhu cầu phụ tải; trong đó tua bin khí chiếm 21,75%, nhiệt điện than chiếm 50,25% sản lượng điện sản xuất và mua của EVN, góp phần quan trọng trong việc cung cấp điện cho miền Nam.

Cũng theo BSC, giá điện bán lẻ tăng mạnh 8,36% từ cuối quý I. Cụ thể, giá bán lẻ điện bình quân vừa được điều chỉnh là 1.864,44 đồng/kWh (chưa gồm thuế VAT), tăng 8,36% so với trước đó (1.720,65 đồng/kWh). Dự kiến với việc tăng giá điện lần này, mỗi năm EVN sẽ thu thêm được 20.000 tỷ đồng. Số tiền này dự kiến sẽ được EVN thanh toán cho các đối tác cung cấp than khí và các nhà máy bán điện cho EVN. Qua đó các DN có các khoản chênh lệch tỷ giá được hoàn lại nợ đọng từ EVN từ các năm trước nhiều khả năng sẽ được thanh toán, giảm áp lực về tài chính cho các DN.

Các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, khung giá phát điện mới không tác động nhiều lên các DN điện trên sàn. Bộ Công thương vừa ban hành Quyết định số 281 về việc ban hành khung giá phát điện năm, theo đó nâng mức trần khung giá điện với nhà máy nhiệt điện than và thủy điện. Tuy nhiên, khung giá mới này chỉ áp dụng cho các nhà máy mới và có công suất tương đối lớn (trên 600MW) trong khi đó các DN điện than lớn trên sàn đều có mức công suất nhỏ và vừa <600 MW do đó ảnh hưởng lên các DN điện trên sàn là không đáng kể.

Nhìn lại kết quả kinh doanh 2018. Đối với các DN phát điện, hầu hết doanh thu đều có tăng trưởng tốt do sản lượng và giá bán tăng theo nhu cầu điện (ngoại trừ CHP tiến hành bảo trì đại tu tổ máy khiến doanh thu sụt giảm). Doanh thu của các DN thủy điện nhìn chung không tăng mạnh do sản lượng bị ảnh hưởng bởi thời tiết khi hiện tượng Lalina có xu hướng suy yếu nhường chỗ cho hiện tượng El Nino. Sản lượng thủy điện sụt giảm là điểm hỗ trợ cho sản lượng của các DN nhiệt điện tăng trưởng tốt, tạo điều kiện để doanh thu của các DN này tăng trưởng tốt.

Tuy nhiên do giá các loại nguyên vật liệu đầu vào (than đá và khí) tăng mạnh và chi phí tài chính lớn do đó hầu hết các DN nhiệt điện đều ghi nhận lợi nhuận có sự sụt giảm (trừ PPC khi DN đã chi trả hầu hết các khoản nợ và có ghi nhận khoản lợi nhuận đột biến trong năm 2018 từ hoàn nhập khoản đầu tư). Doanh thu của mảng công ty xây lắp, thiết bị điện có tăng trưởng thấp, các DN vẫn phải phụ thuộc vào các mảng kinh doanh khác như logistic, bất động sản… khi các dự án đầu tư xây lắp lớn ngành điện vẫn chậm tiến độ do áp lực nợ công và thay đổi cơ quan điều hành quản lý.

Dưới góc nhìn của mình, BSC khẳng định vẫn duy trì đánh giá khả quan với ngành điện. Nhu cầu và giá điện tăng trưởng ổn định tiếp tục đảm bảo tăng trưởng cho các DN ngành điện. Cụ thể, với các DN thủy điện, năm 2019 sẽ là năm khó khăn khi các điều kiện thiên nhiên không ủng hộ.

Tuy nhiên, kết quả kinh doanh của các DN này được dự báo duy trì ổn định trong các tháng đầu năm 2019. Còn với các DN nhiệt điện dự kiến sẽ ghi nhận tăng trưởng tốt trong giai đoạn 2019-2020 khi sản lượng huy động dự kiến sẽ tăng lên, kết hợp với việc dư nợ ngoại tệ của nhiều DN đã giảm bớt.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.450
38.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.450
38.700
Vàng SJC 5c
38.450
38.720
Vàng nhẫn 9999
38.430
38.930
Vàng nữ trang 9999
37.900
38.700