08:30 | 31/03/2018

Điều hành lãi suất: Không chỉ căn cứ vào lạm phát trong nước

Đó là chia sẻ của PGS.TS Trần Hoàng Ngân – thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng với thoibaonganhang.vn xung quanh bức tranh kinh tế quý I/2018.

PGS.TS Trần Hoàng Ngân

Ông có bất ngờ với con số tăng trưởng kinh tế 7,38% trong quý I, vừa được Tổng Cục thống kê công bố?

Tăng trưởng 7,38% là mức tăng cao nhất kể từ khi xảy ra khủng hoảng kinh tế năm 2008. Con số GDP quý I là thành quả chúng ta thực hiện Chính phủ minh bạch, kiến tạo và đẩy mạnh cải cách hành chính. Đây cũng là thành quả khi Chính phủ tập trung chỉ đạo, các Bộ, ngành phải bắt tay ngay vào sản xuất từ những ngày đầu, tháng đầu năm. Cụ thể, các giải pháp điều hành tại Nghị quyết 01 của Chính phủ ban hành ngày 1/1/2018 đã giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quý I như vậy.

Kết quả tăng trưởng kinh tế quý I cũng cho thấy, con đường chúng ta đã và đang chọn trong đó có quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để đạt được những kết tích cực; vấn đề giải ngân trong vốn đầu tư đã phát huy kết quả; các giải pháp về tái cơ cấu hệ thống các TCTD và xử lý nợ xấu hệ thống cũng mang lại hiệu quả…

Về điều hành vĩ mô, ông có nhìn nhận gì về chỉ số lạm phát quý đầu năm?

Đầu năm nay đã có những lo ngại về lạm phát nhưng qua 3 tháng chỉ số CPI bình quân chỉ khoảng 2,8%, vẫn trong tầm kiểm soát. Bởi theo quy luật, lạm phát cao thường rơi vào quý I hoặc quý IV nhưng năm nay nhiều khả năng sẽ khác. Kiểm soát lạm phát giúp điều hành CSTT linh hoạt hơn, theo chiều hướng hỗ trợ các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Trong quý I tăng trưởng tín dụng thấp hơn cùng kỳ năm trước, nhưng GDP vẫn khá cao cho thấy hiệu quả trong sử dụng vốn đã tốt hơn. Lãi suất, tỷ giá ổn định góp thêm niềm tin vào tiền đồng, vào hệ thống.

Vậy theo ông cần lưu ý gì về điều hành CSTT từ nay tới cuối năm không?

Theo tôi, CSTT cần tiếp tục điều hành hết sức linh hoạt, thận trọng, phải theo dõi sát tình hình chung của thế giới, nhất là diễn biến giá dầu. Nhưng với mức lạm phát trong quý I, khi Chính phủ điều chỉnh giá các mặt hàng cần lưu ý đến tác động của đến lạm phát chung, sao cho sự điều chỉnh phải linh hoạt và có những bước đi thận trọng.

Ông có bình luận gì khi có ý kiến cho rằng, khó giảm lãi suất cho vay và nên giữ lãi suất ở mức hợp lý để người dân gửi tiền?

Vấn đề đặt ra hiện nay là với độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá lớn nên việc điều chỉnh giảm lãi suất cũng phải xem xét tác động tương thích đa chiều nhất là động thái lãi suất đồng đôla Mỹ theo xu hướng tăng. Nói như vậy để thấy, chúng ta không thể chỉ căn cứ vào lạm phát trong nước mà điều hành được lãi suất. Theo tôi giữ mặt bằng lãi suất hiện nay đã là thành công. Còn nếu kéo giảm thêm được chút nào thì cũng là sự cố gắng của NHNN.

Trở lại nội dung tăng trưởng, ông có đề xuất gì để hoàn thành mục tiêu GDP 6,7% trong năm nay?

GDP quý I ở mức 7,38% không có nghĩa quý sau cao hơn quý I nhưng vấn đề là nó phá bỏ thành kiến quý I thường là tăng trưởng thấp. Nhưng lưu ý quý này cao, nhưng chưa chắc quý sau đã cao hơn mà còn tùy vào nhiều yếu tố. Có thể do quý I năm ngoài thấp thì năm nay quý I tạo bước đột phá cao hơn theo đà tăng của quý III và quý IV năm 2017.

Nhưng việc đạt mục tiêu đề ra GDP ở mức 6,7% trong năm nay là trong tầm tay. Vấn đề là tăng trưởng cao nhưng phải đảm bảo chất lượng tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng thể hiện qua chi phí đầu tư Icor; năng suất tổng hợp TFP, tính bền vững (thể hiện qua môi trường) nên phải lựa chọn nhà đầu tư thân thiện môi trường…

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.190 23.260 27.067 27.390 30.190 30.673 205,27 211,71
BIDV 23.190 23.260 27.047 27.381 30.207 30.659 207,17 210,25
VietinBank 22.170 23.250 27.017 27.395 30.153 30.713 207,06 210,46
Agribank 23.010 23.085 26.866 27.201 29.996 30.431 205,49 209,66
Eximbank 23.180 23.290 27.053 27.427 30.290 30.708 207,77 210,63
ACB 23.200 23.270 27.076 27.413 30.397 30.698 207,96 210,55
Sacombank 23.160 23.300 27.082 27.493 30.346 30.764 207,66 211,13
Techcombank 23.150 23.270 26.759 27.500 29.911 30.764 206,04 211,53
LienVietPostBank 23.000 23.250 26.967 27.435 30.297 30.719 207,13 210,87
DongA Bank 23.200 23.290 27.080 27.420 30.300 30.710 206,40 210,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.730
36.930
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.730
36.910
Vàng SJC 5c
36.730
36.930
Vàng nhẫn 9999
35.020
35.420
Vàng nữ trang 9999
34.670
35.370