15:36 | 30/01/2019

Fed có khả năng giữ lãi suất ổn định

Trong vòng sáu tuần kể từ khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) "tự tin" tăng lãi suất (lần gần nhất là vào ngày 19/12/2018) để phù hợp với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ của nước này, niềm tin người tiêu dùng giảm, giá bán buôn suy yếu, thị trường tài chính chao đảo và doanh số bán nhà giảm.

TIN LIÊN QUAN
Chủ tịch Fed nói 'rất lo lắng' về sự gia tăng nợ của Mỹ
Fed sẽ kiên nhẫn và linh hoạt với việc tăng lãi suất
Tổng thống Mỹ chỉ trích FED vì gây ra nhiều nỗi sợ hãi với kinh tế Mỹ

Ở bên ngoài nước Mỹ, Trung Quốc nỗ lực thúc đẩy cho vay vì nền kinh tế đang suy giảm. Ngân hàng Trung ương châu Âu thừa nhận tăng trưởng giảm trong khu vực đồng euro. Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới và cảnh báo thương mại toàn cầu đã lao dốc quá nhanh khi các nước lớn trả đũa nhau về thuế quan.

Quyết định khó khăn

Vì vậy, khi Fed kết thúc cuộc họp chính sách hai ngày trong ít giờ nữa, các nhà hoạch định chính sách của cơ quan này sẽ phải đưa ra đánh giá mức độ rủi ro lớn thế nào từ các ảnh hưởng nói trên đến tăng trưởng kinh tế Mỹ trong vòng một thập kỷ tới.

Nhiệm vụ này của họ trở nên khó khăn hơn do việc chậm phát hành dữ liệu kinh tế quan trọng, khi chính phủ Mỹ đã đóng cửa một phần suốt 35 ngày gần đây, bao gồm các báo cáo về doanh số bán lẻ và tổng sản phẩm quốc nội.

Nếu các quyết định chính sách được đưa ra thiếu sự cân nhắc cẩn trọng, viễn cảnh kinh tế có thể mờ nhạt đi, các nhà phân tích bình luận trước quyết định chính sách tuần này của Fed.

Melanie Baker, chuyên gia kinh tế cấp cao của Royal London Asset Management cho biết, các quan chức của Fed đang có những phát ngôn chỉ dấu như thể họ sẽ tạm dừng tăng lãi suất. Họ không biết chính xác những gì đã xảy ra với nền kinh tế bởi vì dữ liệu chưa được công bố.

Fed dự kiến ​​sẽ công bố tuyên bố chính sách mới nhất của mình vào lúc 2 giờ sáng ngày mai (31/1) theo giờ Việt Nam. Thị trường hy vọng cơ quan này sẽ giữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm trong phạm vi mục tiêu từ 2,25% đến 2,50%.

Chủ tịch Fed Jerome Powell dự kiến ​​sẽ tổ chức một cuộc họp báo ngay sau khi cuộc họp kéo dài 2 ngày kết thúc và báo cáo của cơ quan này được phát hành.

Có thể tạm dừng tăng lãi suất

Các nhà phân tích tại Goldman Sachs cho biết họ dự kiến ​​Fed sẽ hạ thấp ngôn ngữ từ so với bản tuyên bố chính sách tháng 12 trước đó, trong đó ngân hàng trung ương Mỹ cho biết một số lần tăng lãi suất tiếp theo sẽ được bảo đảm thực thi trong năm nay.

Nếu động thái như vậy diễn ra, nó có thể mở đường cho việc tạm dừng chính sách thắt chặt tiền tệ, cho Fed thêm thời gian để xem xét liệu tỷ lệ thất nghiệp có thấp hay không, lạm phát còn tiếp tục dao động quanh mục tiêu 2%.

Việc Fed tăng lãi suất bốn lần vào năm ngoái trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế của Mỹ bất ngờ cải thiện tích cực đã nhận sự chỉ trích mạnh mẽ từ Tổng thống Donald Trump, người đã cáo buộc ngân hàng trung ương kéo giảm tăng trưởng kinh tế.

Tại cuộc họp chính sách vào tháng 12, Fed đã báo hiệu rằng họ sẽ tăng lãi suất hai lần trong năm 2019, mặc dù hiện tại dự kiến cơ quan này ​​sẽ trì hoãn việc nâng chi phí vay cho ít nhất là vài cuộc họp tiếp theo.

Trong khi đó, các nhà đầu tư đã giảm dự báo khả năng Fed tăng lãi suất trong năm nay.

Kỳ vọng của nhà đầu tư có thể thay đổi tùy thuộc vào việc liệu tuyên bố chính sách của Fed lần này có tiếp tục mô tả tăng trưởng kinh tế vẫn mạnh mẽ và các rủi ro đối với triển vọng kinh tế là “cân bằng”, hay các nhà hoạch định chính sách cảm thấy tăng trưởng chậm hơn dự kiến.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450