16:00 | 19/04/2018

Giảm đầu vào, hỗ trợ lãi suất đầu ra

Sau khi tăng lãi suất huy động trước và sau Tết Nguyên đán để thu hút tiền nhàn rỗi, trong tháng 4, các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất khi đảm bảo thanh khoản ổn định.

NHNN hút ròng trở lại, lãi suất liên ngân hàng giảm
Lãi suất “đầu vào” hạ, nhưng chưa đủ để giảm lãi cho vay
SeABank cho vay mua ô tô với lãi suất hấp dẫn

Mới đây, Nam A Bank cũng cho biết đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi VND xuống 0,1%/năm đối với kỳ hạn từ 6 - 8 tháng còn 6,5%. Từ 9 tháng trở lên thì ngân hàng áp dụng giảm 0,2%/năm. Trước đó, VIB tính đến thời điểm này đã có 2 lần điều chỉnh giảm lãi suất. Cụ thể, giảm từ 0,3-0,5% cho các kỳ hạn 1-3 và giảm 0,2-0,4 % cho các kỳ hạn trên 6 tháng. VPBank cũng áp dụng biểu lãi suất tiền gửi mới từ 30/3, điều chỉnh giảm ở nhiều kỳ hạn. Đó là giảm 0,2% ở các kỳ hạn dưới 6 tháng và từ 12-36 tháng, giảm 0,3% ở kỳ hạn 6-7 tháng và giảm 0,4% kỳ hạn 8-11 tháng… Ở khối NHTM nhà nước, mức lãi suất huy động được điều chỉnh giảm khá sâu. Tại VietinBank, trần lãi suất ở các kỳ hạn 6 tháng, 7 tháng, 8 tháng hiện chỉ còn 4,8%, giảm tới 0,5% so với trước đây…

Các ngân hàng đều đồng loạt giảm lãi suất huy động trung bình từ 0,1 - 0,3%/năm so với cách đây 1 tháng

Nhìn chung, các ngân hàng  đều đồng loạt giảm lãi suất huy động trung bình từ 0,1 - 0,3%/năm so với cách đây 1 tháng.

Theo chia sẻ của lãnh đạo các NHTM, việc điều chỉnh giảm lãi suất huy động thời điểm này vì nhiều lý do. Trong đó, yếu tố quan trọng là từ đầu năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã đề nghị hệ thống ngân hàng tính toán giảm lãi suất cho vay và giảm đồng loạt. Cũng như NHNN đã có chỉ đạo toàn hệ thống triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2018. Cụ thể là xem xét giảm lãi suất cho vay là một nội dung trọng tâm.

Về lý thuyết, việc áp dụng giảm lãi suất thì người gửi tiền chịu thiệt nhưng thực tế các ngân hàng cho biết vẫn đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền ở phần quà tặng, khuyến mãi lãi suất hoặc bù lãi suất khi gửi ở hình thức khác như online, mua chứng chỉ tiền gửi lãi suất cao…

Cụ thể, nói về quyền lợi của người gửi tiền, một phó Tổng giám đốc NHTMCP cho rằng người gửi tiền không nên quá lo lắng mà chọn kênh đầu tư mới. Bởi trong những tháng tới, lãi suất đầu vào cơ bản sẽ ổn định, mặc dù cũng có thời điểm xảy ra biến động nhưng không tác động nhiều đến việc tăng hay giảm lãi suất. Hơn nữa, các ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động vốn không phải là xu thế dài hạn hoặc cả năm mà chỉ xảy ra tại một thời điểm nhất định. Theo đó, về lâu dài, xu hướng giảm lãi suất đầu vào rất khó xảy ra, nhất là trong bối cảnh áp lực lạm phát năm nay tăng khá rõ, cùng với đó các kênh khác như: vàng, bất động sản đã và đang trở nên hấp dẫn với các nhà đầu tư.

“Việc giảm lãi suất hiện nay chỉ mang tính thời điểm và làm nền tảng cho việc giảm lãi suất đầu ra. Đó là lý do vì sao, các ngân hàng dù điều chỉnh giảm lãi suất huy động nhưng tăng khuyến mãi, tăng lợi ích kèm theo cho người gửi tiền trong bối cảnh hiện nay”, vị Phó tổng giám đốc trên chia sẻ.

Quả vậy, thực tế là có vài ngân hàng đã có cơ sở để điều chỉnh giảm lãi suất cho vay theo nhiều gói vốn khác nhau. Đơn cử, Nam A Bank đã triển khai Gói tín dụng 2.500 tỷ đồng ưu đãi lãi vay chỉ từ 6,88%/năm (VND) và 2,88%/năm (USD), thời hạn vay tối đa 6 tháng nhằm hỗ trợ các DN xuất nhập khẩu chủ động nguồn vốn, phát triển hoạt động kinh doanh. Với gói tín dụng này, Nam A Bank mong muốn tạo điều kiện để các DN tiếp cận vốn vay và bổ sung tài chính cho các kế hoạch phát triển xuất nhập khẩu.

Hay như SCB, từ đầu tháng 4, ngân hàng này đang triển khai gói tài khoản S-pro. Theo đó, các DN là khách hàng mới hoặc khách hàng hiện hữu khi tham gia sản phẩm trên sẽ được hưởng nhiều ưu đãi. Cụ thể DN mới mở tài khoản thanh toán và sử dụng trọn gói bốn dịch vụ này tại SCB sẽ nhận thêm ưu đãi như tặng 0,3% một năm lãi suất tiền gửi VND với kỳ hạn một tháng trở lên, giảm 0,3% một năm lãi suất cho vay trong 3 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân…

Như vậy, việc các ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất đầu vào không chỉ thể hiện được việc đảm bảo thanh khoản ổn định, mà còn thực hiện được nhiều mục tiêu như đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền,  góp phần ổn định mặt bằng lãi suất, tạo tiền đề giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và NHNN.

Vốn huy động từ tổ chức kinh tế và cá nhân đến hết quý đầu năm tăng 3% so với cuối năm 2017, cao hơn mức cùng kỳ năm ngoái 2,6%. Như vậy, với tình hình thanh khoản dồi dào trong khi hoạt động cho vay đã bớt tăng thì việc các NHTM giảm lãi suất huy động là để giảm bớt chi phí lãi đầu vào, bước vào tiến trình điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trong khi ngân hàng vẫn đảm bảo khả năng sinh lời…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
42.000
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
42.000
Vàng SJC 5c
41.650
42.020
Vàng nhẫn 9999
41.600
42.100
Vàng nữ trang 9999
41.200
42.000