09:32 | 05/10/2018

Hà Nội: Nhiều dự án bất động sản dịch chuyển về Thanh Trì, Hoài Đức

Thông tin trên vừa được CBRE đưa ra tại buổi họp báo công bố tiêu điểm thị trường Hà Nội quý III/2018 diễn ra mới đây.

TIN LIÊN QUAN
Gần 100 dự án bất động sản thế chấp tại ngân hàng
Khách sạn mini: Một vốn bốn lời
Dư địa nhà ở xây sẵn vẫn còn lớn

Đại diện của CBRE cho biết, thị trường chung cư quý III năm nay có gần 5.000 căn hộ được chào bán, đến từ 24 dự án trên toàn thành phố, giảm 24% so với quý liền trước. Trong đó, các dự án nằm tại khu vực phía Tây và Nam chiếm hơn 70% nguồn cung mở bán mới trong quý.

Đáng chú ý, theo CBRE, thị trường nhà ở Hà Nội cho thấy xu hướng mở rộng ra ngoài khu vực trung tâm, với các dự án mới ở huyện Thanh Trì và Hoài Đức.

Tuy nhiên, , Giám đốc CBRE Hà Nội Nguyễn Hoài An cho hay, giao dịch trong quý III chỉ đạt 4.300 căn hộ, giảm 27% so với quý trước. Bà An giải thích, đây là thời điểm trong năm mà doanh số bán hàng thường không cao. Bên cạnh đó, người mua nhà cũng đang chờ đợi các dự án lớn mở bán vào cuối năm để đưa ra quyết định, điều này phần nào dẫn đến doanh số bán trong quý III chậm hơn các quý trước.

Trong quý III/2018, lượng giao dịch không nhiều nhưng lượng đặt chỗ lớn ở các dự án chuẩn bị mở bán cho thấy thị trường vẫn đang nhận được sự quan tâm của người mua. Đây là các dự án được chủ đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng và sắp ra hàng sau một thời gian dài nghiên cứu, khảo sát thị trường.

Về mặt bằng giá, mức giá thứ cấp biến động nhẹ, tăng từ 0,1% đến 1,5% theo quý, trung bình ở mức 1.118 USD/m2 (hơn 20 triệu đồng/m2). Một số dự án vừa hoàn thiện có quy mô và được trang bị đầy đủ các tiện nghi tiện ích có mức tăng cao hơn trung bình thị trường, từ 3 - 5%.

Trong quý IV/2018, các dự án trung cấp quy mô lớn như Vincity Ocean Park, Vin City Tây Đại Mỗ sẽ được chào bán giúp cho phân khúc này tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu, dự kiến chiếm khoảng trên 60% tổng nguồn cung chào bán năm 2018.

“Với lượng lớn nguồn cung trong quý IV, số căn bán được dự kiến cũng sẽ tăng mạnh nhờ nhu cầu đến từ cả nhà đầu tư và người mua để ở, khách nước ngoài và trong nước”, bà Nguyễn Hoài An cho hay.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.295 23.385 26.828 27.688 30.409 30.896 204,93 213,12
BIDV 23.300 23.380 26.817 27.138 30.514 30.986 205,84 209,29
VietinBank 23.297 23.387 26.750 27.128 30.381 30.941 205,35 208,75
Agribank 23.280 23.380 26.802 27.160 30.531 30.939 206,10 208,85
Eximbank 23.300 23.380 26.785 27.129 29.600 30.916 206,11 208,76
ACB 23.300 23.392 26.875 27.235 30.633 30.988 206,24 209,30
Sacombank 23.295 23.387 26.884 27.245 30.545 30.900 206,87 209,90
Techcombank 23.280 23.380 26.563 27.276 30.210 31.043 20476 210,00
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.772 27.239 30.500 30.922 206,55 210,27
DongA Bank 23.300 23.380 26.830 27.140 29.540 30.910 204,80 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040