08:00 | 11/03/2019

Hà Nội - thành phố dẫn đầu thế giới về lợi suất văn phòng

Theo báo cáo Savills World Office Yield Spectrum (Lợi suất văn phòng toàn cầu), Hà Nội là thành phố dẫn đầu thế giới về lợi suất văn phòng, đạt 8,57%, xét theo dữ liệu nửa cuối năm 2018. Theo sau là Manila (Philippines), Adelaide (Úc), TP.HCM và Perth (Úc) lần lượt lọt vào top 5 toàn cầu.

Văn phòng cho thuê: Rời Hongkong, doanh nghiệp có chọn TP.HCM là đích đến
Văn phòng cho thuê vẫn đang “nóng”
Giá thuê văn phòng tại Hà Nội tăng nhẹ
Văn phòng cho thuê đắt khách

Tỷ suất vốn hóa thị trường trung bình tại châu Á giảm 3 điểm phần trăm trong nửa đầu năm 2018 xuống 4,74%, chủ yếu do hoạt động mạnh mẽ của thị trường trong nước. Lượng vốn giao dịch tại châu Á tăng trưởng 20% theo năm, trái với dự đoán trước đó rằng mức độ thanh khoản toàn cầu nhìn chung sẽ giảm.

Lượng vốn đầu tư của nhà đầu tư Trung Quốc ra nước ngoài giảm mạnh trong quý II/2018 với hoạt động đầu tư chủ yếu hạn chế trong một vài giao dịch văn phòng quy mô lớn tại Hồng Kông.

Lần thứ ba kể từ tháng 1/2017, Hà Nội xếp hạng đầu tiên trên thế giới về lợi suất văn phòng hạng A với mức lợi suất 8,57%. TP. Hồ Chí Minh, đã từng xếp hạng 2 trong báo cáo Savills World Office Yield Spectrum nửa cuối năm 2017, tụt xuống vị trí thứ 4 với lợi suất thị trường ở mức 7,36%.

Nhận định về triển vọng đầu tư của các thành phố Việt Nam, bà Hoàng Nguyệt Minh, Quản lý Đầu tư, Savills Hà Nội cho biết: “Mức lợi suất cao cho thấy mức tương quan khá hấp dẫn của thu nhập từ việc cho thuê mặt bằng so với giá trị vốn hóa của tòa nhà văn phòng. Chính vì vậy, việc Hà Nội và TP.HCM đang có mức lợi suất cao hàng đầu thế giới cho thấy triển vọng rất khả quan về giá thuê và công suất thuê tại 2 thị trường này.

TP.HCM hiện đang có tình hình hoạt động tốt nhất trong 5 năm qua, với giá thuê trung bình tăng 8% theo năm và công suất thuê đạt 97%. Trong khi đó, Hà Nội ghi nhận giá thuê tăng 3% theo năm trong quý IV/2018 và công suất thuê ổn định ở mức 95%; phân khúc văn phòng hạng A ở khu vực ngoài trung tâm có tình hình hoạt động cải thiện.

Cũng dễ hiểu khi hai thị trường này đã và đang thu hút nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các khách hàng đến từ Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc.

“Nhu cầu mua cao nhưng số lượng giao dịch được thực hiện trong năm 2018 rất ít do hạn chế số lượng dự án để bán. Một giao dịch đáng chú ý là việc Nomura Real Estate trong tháng 1/2018 đã mua 24% quyền sở hữu tòa Sun Wah Tower, một tòa văn phòng hạng A ở TP.HCM”, bà Hoàng Nguyệt Minh cho hay.

Theo Bộ phận Nghiên cứu Savills trong các ấn phẩm lợi suất văn phòng toàn cầu trước, Hà Nội và TP.HCM ghi nhận xu hướng lợi suất giảm từ nửa cuôi năm 2015 đến nửa cuối 2018. Xu hướng này cũng là do nguồn cung văn phòng để bán hạn chế, dẫn đến việc nhà đầu tư cạnh tranh về giá mua dự án, đẩy lợi suất thị trường xuống thấp hơn.

Có thể nói thị trường văn phòng ở Việt Nam hiện đang thuộc về người bán. Nói cách khác nếu bạn đang sở hữu một dự án bất động sản văn phòng, đây là thời điểm thuận lợi để bán.

Trong 5 năm qua, bất động sản là kênh đầu tư được ưa chuộng với tổng số vốn đầu tư tăng trên nhiều phân khúc. Theo Nhóm Nghiên cứu Toàn cầu của Savills, văn phòng là phân khúc thu hút lượng vốn đầu tư lớn nhất - khoảng 340 tỷ USD trên toàn thế giới trong khoảng thời gian từ nửa cuối năm 2017 đến nửa cuối năm 2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820