08:10 | 26/10/2018

Hãy tiếp tục phát huy các thành quả đã đạt được

Quản lý tốt tăng trưởng tín dụng, tiếp tục cải cách khu vực ngân hàng, và duy trì chính sách tỷ giá linh hoạt là những vấn đề cần tập trung trong điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới.

Điều hành chính sách tiền tệ: Điểm tựa vững chắc cho nền kinh tế
Chiến lược ngành Ngân hàng: Những tín hiệu tích cực
Kiểm soát lạm phát theo mục tiêu
Ông Sebastian Eckardt

Đây là quan điểm được ông Sebastian Eckardt - chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam đưa ra trong trao đổi với Thời báo Ngân hàng.

Chiến tranh thương mại (CTTM) Mỹ - Trung liên tục gia tăng trong thời gian qua. Vậy Việt Nam cần làm gì để giảm thiểu các tác động trong bối cảnh này?

Tôi nghĩ có 3 vấn đề lưu ý: Một là, các rủi ro toàn cầu nói chung, trong đó có rủi ro về CTTM Mỹ - Trung gia tăng càng cho thấy chúng ta cần phải tăng cường tập trung vào ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô. Bởi các bất ổn gia tăng có thể gây ra những cú sốc cả về thương mại và đầu tư khi có thể làm giảm nhu cầu của thế giới với các hàng hóa nhập khẩu. Để đối phó với điều đó, Việt Nam cần chuẩn bị để có được một khung khổ chính sách kinh tế vĩ mô tốt, khả năng kháng cự bền bỉ và xây dựng được các gối đệm tốt để có thể đối phó.

Thứ hai, những căng thẳng và rủi ro hiện nay tạo ra dư địa để Việt Nam có thể tận dụng một phần thế chỗ cho các hàng hóa hay các dòng thương mại bởi Việt Nam không phải đối tác thương mại bị đánh thuế cao hơn. Nhưng để làm được điều đó thì mấu chốt là Việt Nam cần tiếp tục các cải cách quan trọng đã và đang tiến hành, tăng cường năng lực cạnh tranh đặc biệt là ở các ngành chế tạo điện tử định hướng xuất khẩu hay thậm chí cả ngành dệt may. Điều đó sẽ tốt cho Việt Nam ngay cả khi có CTTM xảy ra hay không.

Thứ ba, trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập rất sâu vào nền kinh tế toàn cầu thì việc tiếp tục hội nhập, tránh chủ nghĩa bảo hộ - có xu hướng ngày càng tăng hiện nay – là điều hết sức quan trọng. Các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam cần tham gia chủ động hơn nữa vào nền kinh tế toàn cầu để tiếp tục thúc đẩy các nguyên tắc chung của hệ thống thương mại và đầu tư toàn cầu.

Trong bức tranh tăng trưởng kinh tế khả quan và ổn định, ông đánh giá thế nào về điều hành chính sách tiền tệ 9 tháng vừa qua?

Việt Nam đã tiếp tục duy trì được kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, tỷ giá tương đối ổn định - đặc biệt nếu bạn so sánh với biến động của các đồng tiền khác trong khu vực thời gian vừa qua. Khu vực ngân hàng cũng khá ổn định, nỗ lực xử lý nợ xấu và đảm bảo gối đệm vốn của các ngân hàng cũng có những tiến bộ… Nên về tổng thể, tôi thấy môi trường kinh tế vĩ mô nói chung, quản lý và điều hành chính sách tiền tệ nói riêng có những chuyển biến tích cực trong thời gian vừa qua.

Vậy các gợi ý của ông cho điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới là gì, nhất là trong bối cảnh CTTM gia tăng có thể tác động đến thị trường ngoại hối và lãi suất tại Việt Nam?

Theo tôi có 3 vấn đề cần tập trung. Đầu tiên là quản lý tốt tăng trưởng tín dụng. Tôi quan sát thấy tăng trưởng tín dụng đã gia tăng trong vài năm trở lại đây và với quy mô tín dụng rất lớn so với GDP (135% GDP) có thể tạo ra những rủi ro cho ổn định nền kinh tế. Vì thế tôi cho rằng, trong bối cảnh nền kinh tế đang vận hành tốt hiện nay thì cần giảm tăng trưởng tín dụng.

Cùng với đó, cần tiếp tục cải cách khu vực ngân hàng, củng cố gối đệm cho hệ thống ngân hàng, tăng vốn ở những ngân hàng còn thiếu vốn và tiếp tục thúc đẩy xử lý nợ xấu. Đây là thời điểm tốt để tiến hành các công việc này bởi nền kinh tế đang vận hành tốt và chi phí để xử lý các vấn đề, rủi ro trên ở thời điểm hiện nay vẫn trong tầm quản lý được.

Một vấn đề quan trọng khác là cần thiết phải có một chính sách tỷ giá linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường và tránh chệch hướng trong điều hành tỷ giá. Trong bối cảnh các áp lực bên ngoài ngày càng tăng, từ việc dòng vốn rút mạnh khỏi các thị trường mới nổi tới các căng thẳng thương mại gia tăng đang tác động ngày càng lớn đến các đồng tiền ở các thị trường mới nổi trong khu vực, đồng USD có xu hướng mạnh lên, Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất… Việt Nam cần đảm bảo chính sách tỷ giá của mình được điều chỉnh phù hợp với những diễn biến đó và chuyển động của tỷ giá cần phản ánh sát với những thay đổi.

Tôi nghĩ mấu chốt là việc xác định tỷ giá tham chiếu giao dịch hàng ngày và biên độ biến động trên cơ sở đảm bảo tỷ giá tham chiếu sát với tỷ giá của thị trường. Đồng thời cần đảm bảo không chỉ căn cứ vào tỷ giá giữa VND với USD mà còn với các ngoại tệ khác, đặc biệt là đồng tiền của các đối tác thương mại lớn của Việt Nam.

Ông vừa nói về vấn đề cần thúc đẩy tiếp tục tái cơ cấu ngân hàng. Vậy ông đánh giá thế nào về sự quyết liệt của NHNN trong vấn đề này, cũng như vấn đề xử lý nợ xấu thời gian vừa qua?

Chúng ta đã thấy được những tiến triển tốt trong các vấn đề này. Ví dụ là việc ra đời của Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu thực sự đã tạo ra những nền tảng pháp lý quan trọng để thúc đẩy xử lý nợ xấu. Luật sửa đổi Luật Các TCTD cũng là một bước để cải thiện khung khổ pháp lý cho hoạt động của các TCTD. Và kế hoạch tái cơ cấu hệ thống ngân hàng cũng đặt ra những mục tiêu rõ ràng trong việc giải quyết các thách thức còn tồn tại. Điều này đã tạo dựng được sự tin tưởng, nhưng cũng vẫn còn một số yếu kém tồn tại trong hệ thống ngân hàng cần được giải quyết và đây là thời điểm tốt để hành động. Về phía WB, chúng tôi luôn sẵn sàng làm việc cùng với NHNN và các bên khác trong hỗ trợ giải quyết các vấn đề này.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.272 27.009 29.499 29.972 206,58 214,72
BIDV 23.155 23.245 26.252 26.618 29.487 29.947 211,45 215,07
VietinBank 23.146 23.246 26.197 26.987 29.395 29.955 211,27 215,02
Agribank 23.150 23.240 26.249 26.624 29.501 29.958 211,38 215,05
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.160 23.262 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.270
36.670
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620