10:00 | 28/03/2019

Khi doanh nghiệp tư nhân chậm lớn

Tình trạng “sớm nở tối tàn” tiếp diễn nhiều năm của doanh nghiệp Việt Nam khiến khu vực này tiếp tục quẩn quanh trong thể trạng chậm lớn, li ti hoá…

Sau 2 tháng đầu năm trầm lắng, tình hình đăng ký doanh nghiệp đã sôi động trở lại vào tháng 3. Số liệu thống kê sơ bộ vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cập nhật ngày 27/3 cho thấy, tổng số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 3/2019 ước đạt hơn 12.400 doanh nghiệp, cao gấp hơn 2 lần so với tháng trước. Tính chung quý I, tổng số doanh nghiệp thành lập mới là 28.451 DN, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. Con số này là hết sức khả quan nếu so với thời điểm cuối tháng 2, số doanh nghiệp đăng ký mới giảm tới 14,6% về số lượng.

Ảnh minh họa

Mặc dù vậy, sự khởi sắc này chưa thể khiến các cơ quan quản lý nhà nước yên tâm. Bởi tính chung trong quý I, tổng số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động vẫn lên tới 15.000 doanh nghiệp, bằng khoảng 53% tổng số đăng ký mới. Trong vài năm gần đây, nếu ví nền kinh tế là bức tranh tổng thể mang gam màu tươi sáng, thì tình hình hoạt động của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước luôn là điểm tối khó khắc phục. Đơn cử như năm 2018, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể tăng tới 63,4%, bằng gần một nửa so với tổng số doanh nghiệp đăng ký mới.

Tình trạng “sớm nở tối tàn” tiếp diễn nhiều năm của doanh nghiệp Việt Nam khiến khu vực này tiếp tục quẩn quanh trong thể trạng chậm lớn, li ti hoá… Chậm lớn ở chỗ, dù là động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế, nhưng thành phần này chỉ tăng thêm được 0,8 điểm % tỷ phần trong GDP sau 6 năm. Li ti hoá thể hiện ở số doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm 95-96% tổng số doanh nghiệp, tỷ lệ duy trì bền vững sau nhiều năm. Thể trạng doanh nghiệp tư nhân trong nước tạo thành khuyết thiếu cơ cấu nghiêm trọng khi nội bộ khu vực này không thể tạo ra lực lượng kế cận để phát triển thành doanh nghiệp lớn.

Hệ quả kéo theo đó là nền kinh tế Việt Nam có cơ cấu manh mún, tốc độ chuyển dịch sang phía quy mô lớn, hiện đại rất chậm. Bức tranh này cơ bản được giữ nguyên tới đầu năm 2019. Nhìn xa hơn trong quãng thời gian 10 năm trở về trước, không ít ý kiến cho rằng khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã có bước lùi so với chính mình. Hầu hết doanh nghiệp thậm chí chưa hồi phục lại được mức trước năm 2010. Một số tập đoàn kinh tế tư nhân trỗi dậy song chưa đủ sức làm xoay chuyển bức chân dung tổng thể của khu vực kinh tế tư nhân.

Về nguyên tắc, kinh tế tư nhân trong nước phải là lực lượng đóng góp chủ yếu vào GDP thì sau 30 năm đổi mới, khu vực này chỉ đóng góp chưa đến 10%, lép vế hơn hẳn so với khu vực kinh tế nhà nước (28%) và kinh tế hộ gia đình (32%). Thể trạng yếu ớt và xu hướng phát triển của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang đặt ra những vấn đề đáng lo ngại.

Trước hết, đó là sự dễ bị tổn thương của chính khu vực này trước các biến động ngày càng khốc liệt của nền kinh tế. Dễ dàng nhận thấy điều này qua số doanh nghiệp giải thể hoặc phải ngừng kinh doanh trong những năm gần đây là rất lớn, bình quân 60.000-80.000 DN/năm.

Thực tế cho thấy, mấy năm vừa qua, số doanh nghiệp thành lập trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo không nhiều, và thường thấp hơn đáng kể so với số doanh nghiệp thành lập trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Lấy ví dụ gần nhất trong cả năm 2018, số doanh nghiệp thành lập mới trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ tăng 0,1%, trong khi doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tăng tới 40%, đồng thời cũng là khu vực có tốc độ tăng mạnh nhất.

Kéo theo đó, tốc độ đa dạng hóa ngành nghề không theo kịp xu thế toàn cầu. Tỷ trọng doanh nghiệp Việt Nam phục vụ sản xuất chế biến chế tạo chỉ đạt khoảng 15%, trong khi mức trung bình của các nước đang phát triển là 17%, các nước phát triển là 27-28%. Rõ ràng, khu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn chưa thể đóng vai trò là lực lượng trụ cột, dẫn dắt cạnh tranh và định hình chân dung nền kinh tế. Và nhìn rộng hơn, sự chậm lớn của khối doanh nghiệp tư nhân giảm, còn làm giảm năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700