10:28 | 02/05/2019

Kinh tế vững tạo cơ hội cho cải cách

Căng thẳng thương mại và bất ổn tài chính toàn cầu trong năm 2018 đã có những tác động đến nền kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn có sức chống chịu tốt, đạt tăng trưởng cao và đà tăng trưởng vẫn tiếp tục duy trì.

Tăng trưởng chậm là cơ hội để thúc đẩy cải cách
PCI 2018: Thông điệp, hành động và dư địa cho cải cách
IMF đánh giá cao những cải thiện về cơ sở hạ tầng của Việt Nam

Sức chống chịu tốt

Đoàn cán bộ tham vấn Điều IV của IMF đã kết thúc chuyến làm việc từ ngày 3-19/4/2019 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Sau chuyến thăm, ông Alex Mourmouras - Trưởng đoàn đã thông tin sơ bộ về những kết quả đánh giá của Đoàn về kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị về những vấn đề cần tập trung thời gian tới.

Đoàn tham vấn Điều IV nhận định, những căng thẳng thương mại và bất ổn tài chính trong năm 2018 cũng đã có những tác động đến nền kinh tế rất mở của Việt Nam, bao gồm cả qua sự điều chỉnh của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn có sức chống chịu tốt với tăng trưởng đạt mức 7,1% - mức cao nhất trong 10 năm trở lại đây và đà tăng trưởng vẫn tiếp tục duy trì trong quý I/2019.

“Tăng trưởng đồng đều ở mọi lĩnh vực được hỗ trợ bởi sự tăng trưởng tốt về thu nhập và tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đô thị đang tăng lên, bởi khu vực chế biến chế tạo tăng trưởng mạnh mẽ và dòng tiền vào nhờ du lịch, kiều hối và đầu tư trực tiếp ngày càng tăng”, ông Alex Mourmouras đánh giá.

Ông cũng cho rằng, triển vọng của nền kinh tế Việt Nam vẫn khả quan nhờ các yếu tố nền tảng vững mạnh, cơ cấu thương mại đa dạng và cam kết của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng lấy khu vực kinh tế tư nhân làm động lực chính. Tuy nhiên, IMF dự báo tốc độ tăng trưởng sẽ giảm nhẹ về mức 6,5% trong năm 2019 và trong trung hạn, phản ánh các điều kiện bên ngoài yếu đi. Trong khi đó, lạm phát dự kiến sẽ tăng nhẹ trong năm 2019 do sự tăng giá của một số mặt hàng Nhà nước quản lý, nhưng vẫn nằm dưới mục tiêu 4% của Chính phủ.

Một yếu tố tích cực khác là thâm hụt ngân sách đã giảm đáng kể trong giai đoạn 2016-2018 so với giai đoạn trước đó. Thâm hụt thấp hơn cùng với các quy định chặt chẽ về cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới và tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đang giúp tài chính công của Việt Nam có nền tảng vững chắc hơn. Nợ công và nợ Chính phủ bảo lãnh đã giảm từ mức 60% GDP vào cuối năm 2016 xuống 55,5% GDP vào cuối năm 2018. Nhưng Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức.

Đoàn IV khuyến nghị: “Các cơ quan chức năng vẫn tiếp tục củng cố tài khóa, song cần cải thiện chất lượng củng cố tài khóa để tạo thêm dư địa tài khóa, thu hẹp khoảng cách giữa chi an sinh xã hội và chi đầu tư cơ sở hạ tầng và ứng phó với thách thức về già hóa dân số nhanh”.  

Củng cố chính sách và quy định an toàn vĩ mô

Đoàn cũng hoan nghênh những tiến triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các thị trường vốn khác ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, cũng như kế hoạch của các bộ ngành về cải thiện cơ sở hạ tầng, bởi phát triển tốt thị trường vốn sẽ giúp giảm chi phí vốn tại Việt Nam và giảm áp lực tín dụng ngân hàng.

Đối với hệ thống ngân hàng, Trưởng đoàn tham vấn Điều IV Alex Mourmouras cho rằng, việc NHNN dự định dần chuyển từ phân bổ hạn mức tín dụng mang tính hành chính sang các phương thức dựa trên thị trường và các ngân hàng sẽ áp dụng chuẩn mực theo Basel II vào tháng 1/2020 là đáng khích lệ. Tuy nhiên, điều này sẽ đòi hỏi phải tiếp tục củng cố các NHTM Nhà nước, trong đó có việc cải thiện quản trị và tạo các gối đệm vốn cao hơn.

Các chuyên gia IMF cũng hoan nghênh kế hoạch hiện đại hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ, bao gồm cả điều hành tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn nhằm giúp cho đồng nội tệ trở thành một công cụ hấp thụ tốt hơn các cú sốc bên ngoài. “NHNN nên tiếp tục tích lũy dần dự trữ ngoại hối. Bên cạnh đó để đảm bảo sự ổn định tài chính và tiền tệ, nên củng cố hệ thống các chính sách và quy định an toàn vĩ mô”, ông Alex Mourmouras đề xuất.    

Nền kinh tế vững mạnh đã tạo cơ hội cho những cải cách cơ cấu tham vọng hơn nhằm tạo sân chơi bình đẳng cho khu vực tư nhân trong nước, giải quyết sự méo mó chính sách kinh tế, hạn chế năng lực và tăng đầu tư. Do đó, Việt Nam nên tiếp tục cắt giảm các thủ tục hành chính, cấp phép và tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với đất đai và tín dụng. Việc chia sẻ thông tin nhiều hơn và tăng tính minh bạch trong toàn bộ các cơ quan của chính phủ, giữa khu vực công và các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ giúp Việt Nam đạt được vị thế là một thị trường mới nổi đầy đủ.

Nhấn mạnh những nỗ lực hiện nay về phòng chống tham nhũng rất đáng hoan nghênh, Đoàn tham vấn Điều IV khuyến nghị nên tiếp tục thực hiện những cải cách trong đấu thầu mua sắm công, cải thiện hơn nữa hệ thống kê khai thu nhập và tài sản đối với công chức và chuẩn bị cho đợt đánh giá thực hiện Chống rửa tiền và Tài trợ khủng bố (AML/CFT).

Dựa trên những kết quả đánh giá ban đầu này, Đoàn tham vấn Điều IV sẽ soạn thảo một báo cáo cho Ban lãnh đạo phê duyệt và sẽ được trình lên Ban Giám đốc Điều hành của IMF để thảo luận và ra quyết định vào tháng 6/2019.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.160
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.160
41.420
Vàng SJC 5c
41.160
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.140
41.590
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420