10:00 | 19/08/2019

Mía đường vỡ trận định hướng quy hoạch

Các doanh nghiệp mía đường cả nước hiện còn tồn kho khoảng 650 nghìn tấn đường. Đây là mức tồn kho cao nhất trong 10 năm trở lại đây.

Ngành mía đường: Bộn bề trước hội nhập
Hậu hội nhập và bài toán lựa chọn ngành nghề có lợi thế
Phía bên kia “thiên đường” hội nhập, nhìn từ ngành mía đường

Theo Đề án Phát triển mía đường đến năm 2020, định hướng đến 2030 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì đến năm 2020, diện tích sản xuất mía sẽ ổn định 300.000 ha, sản lượng mía trên 20 triệu tấn và sản lượng đường là 2 triệu tấn (trong đó 1,3 triệu tấn đường tinh luyện, 0,7 triệu tấn đường trắng và đường khác). Và thực tế là sản xuất mía đường niên vụ 2018 – 2019 cho sản lượng mía khoảng 14 triệu tấn, sản lượng đường đạt khoảng 1,3 triệu tấn. Đến niên vụ mía đường 2019 - 2020, sản lượng này sẽ còn tiếp tục giảm, với diện tích mía giảm xuống còn 220.000 ha, sản lượng mía còn khoảng 13 triệu tấn và sản lượng đường khoảng 1,25 triệu tấn…

Đây chính là nỗi lo lớn của doanh nghiệp ngành mía đường hiện tại. Các khó khăn liên miên trong những năm qua đã khiến ngành mía đường gần như teo tóp và thụt lùi so với mục tiêu phát triển đã đề ra.

Ngành mía đường đang phải đối mặt với những khó khăn lớn

Ông Nguyễn Văn Lộc, Thư ký Hiệp hội mía đường Việt Nam (VSSA) cho biết, niên vụ mía đường 2018 – 2019 là đỉnh cao khó khăn của ngành mía đường (cả nhà nông và doanh nghiệp). Đối với người trồng mía tại một số tỉnh ĐBSCL (Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ…) trung bình chi phí đầu tư cho 1 công đất (1.000m2) trồng mía vào khoảng 7 triệu đồng, nhưng cuối vụ chỉ thu được từ 3 – 4 triệu đồng, lỗ rất nhiều cả công và vốn, vì vậy nhiều hộ nông dân không muốn tái vụ, chuyển đổi sang trồng loại cây khác, dẫn đến việc giảm diện tích trồng mía cho niên vụ 2019 – 2020.

Phía doanh nghiệp, thời gian qua đã không ngừng đầu tư trang thiết bị dây chuyền sản xuất hiện đại, song cùng với việc đường tồn kho là thiếu nguyên liệu sản xuất (do tổng diện tích mía nguyên liệu hiện đã giảm  từ 30% - 60%), các nhà máy chỉ sản xuất cầm chừng.

Các doanh nghiệp mía đường cả nước hiện còn tồn kho khoảng 650 nghìn tấn đường. Đây là mức tồn kho cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Và đã có quá nửa doanh nghiệp (17/30 doanh nghiệp) sản xuất đường thua lỗ, mất vốn chủ sở hữu. Điều đáng lo nhất là nhiều nhà máy sẽ đóng cửa, ngừng sản xuất đối mặt với nguy cơ phá sản.

Khó khăn nội tại đã nhiều, nhưng áp lực khách quan càng không nhỏ. Đó là lộ trình cam kết trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN đến ngày 1/1/2020 mặt hàng đường từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ được xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu và có thuế suất nhập khẩu chỉ 5%. Trong khi hiện tại, số lượng đường nhập lậu qua biên giới từ Lào, Campuchia khoảng 600 nghìn – 700 nghìn tấn/năm đã khiến ngành mía đường nội tồn kho cao ngất, nhiều nhà máy đóng cửa.

Ngoài ra, còn tính đến việc các doanh nghiệp nhập khẩu đường theo quy trình tạm, nhập tái xuất, nhưng sau đó không tái xuất cũng không phải số lượng ít. Cụ thể từ đầu năm đến nay, sản lượng đường thô nhập khẩu của các doanh nghiệp đã lên đến 440  nghìn tấn (cùng kỳ năm 2018 là 78.292 tấn). Con số này cộng với việc đến 2020 đường giảm thuế, giá rẻ tiếp tục tràn vào thị trường Việt, thì ngành mía đường trong nước xem như mất cơ hội phát triển đúng định hướng. Con số mục tiêu phát triển ngành mía đường đến năm 2030 có diện tích sản xuất mía ổn định 300.000 ha, tăng năng suất để đạt sản lượng mía 24 triệu tấn, sản lượng đường 2,5 triệu tấn xem như chỉ nằm trên… giấy.

Theo VSSA trong 10 năm trở lại đây, ngành mía đường đã đầu tư hơn 20.000 tỷ đồng trang bị máy móc công nghệ, nhằm đón đầu hội nhập. Đến nay, hầu hết các nhà máy đường trong nước đều có nền tảng công nghệ, kỹ thuật tự động và đạt tầm quốc tế. Vì vậy, lợi thế so sánh với các nước sản xuất đường trong khu vực là không thua kém, thậm chí giá đường ra thị trường còn có lợi thế rẻ hơn.

Nhiều doanh nghiệp Việt có nguồn lực lớn đã đầu tư trồng mía sản xuất đường ra các quốc gia láng giềng như Lào, Campuchia… cho thấy, năng lực của doanh nghiệp trong ngành không hề yếu kém. Vấn đề còn lại là các nước có ngành mía đường được đánh giá cao hơn Việt Nam (trong khu vực) như Thái Lan, thì doanh nghiệp hay nhà nông vẫn còn được bảo hộ sản xuất, nên Việt Nam rất khó cạnh tranh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850