15:07 | 09/08/2019

Năm 2030, gần 6 triệu người có nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp

 Đó là  một trong những nhận định được trao đổi tại hội thảo “Nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Phát triển nông thôn tổ chức ngày 9/8.

Hội thảo có sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý, các bộ, ngành, hiệp hội, các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ)…

Tại đây nhiều chia sẻ kinh nghiệm và các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp; định hướng xây dựng Đề án đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn thực hiện các chương trình trọng điểm của ngành nông nghiệp giai đoạn 2021 - 2030 đã được đưa ra.

Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển Nông thôn dự báo, đến năm 2030 sẽ có khoảng 100.000 doanh nghiệp nông nghiệp, 30.000 hợp tác xã, 70.000 tổ hợp tác và 70.000 trang trại nông nghiệp và sẽ có từ 4,5 - 6 triệu lao động có nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp.

Năng cao kĩ năng nghề cho lao động nông thôn là việc cần làm ngay

Quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp dự kiến sẽ hình thành 13 sản phẩm chủ lực cấp quốc gia; từ 200-300 sản phẩm chủ lực cấp vùng và tỉnh; khoảng 2.500 sản phẩn nông nghiệp của địa phương, sản phẩm OCOP. Do đó, nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn là rất lớn.

Trong giai đoạn 2020-2030, để tốc độ tăng năng suất lao động nông lâm thủy sản đạt trên 5%/năm; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt từ 55-65%.

Trong bối cảnh đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, ông Lê Đức Thịnh cho rằng, năm 2020 cần xây dựng bộ dữ liệu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.

Cùng với đó, xây dựng đề án đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm của ngành trong giai đoạn 2021-2030 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; xây dựng chương trình, tài liệu khung với nội dung phù hợp với yêu cầu thực tiễn về sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, ưu tiên các chương trình đào tạo về nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp số và khởi nghiệp cho lao động trẻ.

Về hình thức đào tạo, ông Lê Đức Thịnh đề xuất, cần tiếp tục coi trọng việc hỗ trợ đào tạo tại các doanh nghiệp, hợp tác xã và các dạng thực hành tại nơi sản xuất là chính; khuyến khích xã hội hóa và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề. Mỗi địa phương có từ 1-2 đơn vị đào tạo gắn với thực tiễn, theo nhu cầu đặt hàng của địa phương.

Đại diện cho tổ chức quốc tế, bà Valentina Barcucci, chuyên gia kinh tế lao động, Phó giám đốc Văn phòng ILO Việt Nam khuyến nghị, cần đưa hệ thống khuyến nông và hệ thống giáo dục nghề nghiệp lại gần nhau hơn.

“Việt Nam cần có sự công nhận, chứng chỉ đào tạo nghề. Người lao động có thể sử dụng chứng chỉ đào tạo ở mọi nơi và có thể tiếp tục nâng cao mức độ cấp chứng chỉ thông qua hệ thống công nhận kỹ năng. Do đó, Việt Nam cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho các nghề đào tạo”, bà Valentina Barcucci nhấn mạnh.

Đại diện các bên đã cùng trao đổi, đánh giá về thực trạng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại Việt Nam thời gian qua. Đồng thời, cùng đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường năng lực lao động nông nghiệp phục vụ khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, tham gia chuỗi giá trị nông sản.

Kết thúc hội thảo, đại diện các cơ quan, tổ chức của Việt Nam và quốc tế đã cùng thống nhất, ký thỏa thuận thành lập Mạng lưới Đối tác phát triển đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp tại Việt Nam (Training network).

Theo đó, các bên sẽ cùng nhau hợp tác trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ luật pháp Việt Nam để đóng góp vào sự phát triển và nâng cao năng lực cho lao động nông nghiệp tại Việt Nam, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, tăng cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450