11:07 | 11/08/2017

Quan chức hàng đầu của Fed vẫn lạc quan về triển vọng lạm phát

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hy vọng lạm phát vốn đang “rất yếu” tại Mỹ sẽ tăng trở lại nhờ vào việc đồng USD suy yếu và thị trường lao động tiếp tục được thắt chặt. Một trong những quan chức có ảnh hưởng nhất của Fed đã cho biết như vậy, qua đó củng cố chính sách thắt chặt dần của Fed.

Lạm phát yếu không ngăn Fed giảm bảng tài sản, nhưng cản bước lãi suất
Chủ tịch Fed St Louis: Fed không cần tăng lãi suất trong ngắn hạn
Kinh tế Mỹ tăng tốc trong quý 2, nhưng tiền lương yếu vẫn đang cản bước Fed
Chủ tịch Fed New York William Dudley

Trong một bài phát biểu hôm thứ Năm nhằm kêu gọi Mỹ cần phải làm nhiều hơn nữa để hạn chế xu hướng gia tăng bất bình đẳng chủng tộc về việc làm và thu nhập, Chủ tịch Fed New York William Dudley gợi ý rằng Fed vẫn đang trên đà tăng lãi suất một lần nữa và bắt đầu thu hẹp danh mục đầu tư trái phiếu trong năm nay.

Hiện các nhà đầu tư vẫn tỏ ra hoài nghi rằng Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 12, với giả định mức lạm phát hàng năm được ưa thích của Fed đã giảm trong những tháng gần đây, và hiện chỉ ở mức 1,5%, thấp hơn nhiều mục tiêu 2%.

Tuy nhiên, Dudley, một đồng minh thân cận của Chủ tịch Fed Janet Yellen và quan chức có quyền bỏ phiếu quyết định về chính sách tiền tệ của Mỹ cho biết, đồng đôla đang giảm mạnh sẽ đẩy tăng giá nhập khẩu và thị trường lao động thắt chặt sẽ tạo sức ép lên tăng trưởng tiền lương, “nên cuối cùng sẽ đẩy lạm phát lên”.

“Tôi cho rằng nó (lạm phát) sẽ tăng cao hơn trong trung hạn, nhưng có lẽ không thể đạt được 2% trên cơ sở hàng năm, bởi nên nhớ rằng chúng ta đã có những số liệu lạm phát rất yếu trong một số tháng gần đây”, ông nói với các phóng viên sau bài phát biểu tại Fed New York và dự đoán lạm phát hàng năm có thể vẫn chịu áp lực trong 6 đến 10 tháng.

Ông nói thêm rằng tăng trưởng năng suất chậm lại là nguyên nhân dẫn đến nghịch lỳ trên thị trường lao động thời gian qua, đó là tăng trưởng tiền lương vẫn rất chậm chạm cho dù tăng trưởng việc làm mạnh mẽ.

Thất nghiệp đã giảm xuống mức thấp nhất trong 16 năm là 4,3% trong tháng 7, nhưng tiền lương chỉ tăng lên chỉ ở mức thất vọng 2 đến 2,5% mỗi năm, và điều này quay trở lại đã làm dịu áp lực lạm phát.

Fed đã tăng lãi suất 2 lần trong năm nay và dự kiến ​​sẽ tăng thêm một lần nữa, có khả năng vào tháng 12. Thế nhưng hiện giới thương nhân chỉ đặt cược một cơ hội khoảng 42% cho lần tăng lãi suất thứ 3 này.

Quay trở lại với chủ đề bất bình đẳng, một chủ đề mà ông và Chủ tịch Fed Yelln đã từng đề cập trước đây, Dudley nói rằng “rất đáng lo ngại” khi nghiên cứu cho thấy chỉ có 37% người Mỹ nghĩ rằng con của họ sẽ tốt hơn so với họ.

Một phần cũng do tỷ lệ thất nghiệp của người da đen và người gốc Tây Ban Nha cao hơn so với tác động của việc thay đổi về công nghệ và toàn cầu hóa đến sản xuất và các công việc có kỹ năng thấp, từ đó ông kêu gọi chính sách giáo dục và đào tạo tốt hơn để giải quyết vấn đề này.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
7,00
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
5,10
5,90
5,90
6,60
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.690 22.760 26.513 26.843 28.910 29.374 202,50 206,38
BIDV 22.690 22.760 26.557 26.788 29.094 29.352 204,28 206,10
VietinBank 22.680 22.760 26.458 26.802 28.869 29.367 202,75 206,15
Agribank 22.670 22.760 26.408 26.836 28.936 29.375 202,97 206,46
Eximbank 22.670 22.760 26.465 26.810 29.001 29.379 203,80 206,46
ACB 22.700 22.770 26.492 26.824 29.103 29.394 203,84 206,40
Sacombank 22.686 22.767 26.521 26.881 29.076 29.436 203,68 206,75
Techcombank 22.670 22.770 26.269 26.866 28.734 29.407 202,40 207,11
LienVietPostBank 22.680 22.770 26.287 26.837 29.109 29.411 202,12 206,54
DongA Bank 22.695 22.765 26.520 26.810 29.060 29.380 203,70 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.150
36.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.150
36.350
Vàng SJC 5c
36.150
36.370
Vàng nhẫn 9999
34.860
35.260
Vàng nữ trang 9999
34.560
35.260