11:00 | 24/05/2019

Quản lý nhà thuộc sở hữu Nhà nước còn nhiều bất cập

Theo đánh giá của Sở Xây dựng TP.HCM, hiện còn nhiều vụ việc tồn đọng liên quan đến nhà thuộc SHNN, nguyên nhân chính là do tính pháp lý phức tạp; bên cạnh đó có nhiều văn bản của Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn và nhiều văn bản xử lý của thành phố có sự trùng lắp, mâu thuẫn, nên khi xử lý từng vụ việc chưa có sự thống nhất…

Sở Xây dựng TP.HCM vừa có báo cáo UBND TP.HCM về việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện để giải quyết các bất cập trong công tác quản lý, sử dụng nhà, đất và tài sản khác gắn liền với đất thuộc sở hữu Nhà nước (SHNN) trên địa bàn thành phố.

TP.HCM đã chủ động trong việc phát triển nhà ở phục vụ tái định cư

Ông Nguyễn Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM cho rằng, công tác quản lý nhà thuộc SHNN có nhiều bất cập và không còn phù hợp theo yêu cầu hiện nay. Cụ thể, Công ty TNHH Một thành viên Quản lý kinh doanh nhà thành phố và các công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ công ích 24 quận - huyện chủ yếu tập trung cho công tác kinh doanh và công ích; công tác quản lý nhà chưa thực sự chuyên sâu, quản lý, kiểm tra việc sử dụng nhà chưa chặt chẽ, nợ đọng tiền thuê nhà số lượng lớn nhưng chưa có giải pháp xử lý, công tác bán nhà còn chậm so với yêu cầu...

Theo đánh giá của Sở Xây dựng TP.HCM, hiện còn nhiều vụ việc tồn đọng liên quan đến nhà thuộc SHNN, nguyên nhân chính là do tính pháp lý phức tạp; bên cạnh đó có nhiều văn bản của Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn và nhiều văn bản xử lý của thành phố có sự trùng lắp, mâu thuẫn, nên khi xử lý từng vụ việc chưa có sự thống nhất…

Hiện nay, quỹ nhà ở cũ thuộc SHNN trên địa bàn TP.HCM do Công ty TNHH Một thành viên Quản lý kinh doanh nhà thành phố và các Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ công ích 24 quận - huyện quản lý giữ hộ là 10.598 căn hộ (chưa tính đến các trường hợp tiếp nhận và chuyển giao mới). Trong đó, có 572 căn hộ biệt thự, 4.648 căn hộ nhà phố, 5.378 căn hộ chung cư và đang quản lý trống là 82 căn nhà.

Thực hiện Nghị định số 61/CP của Chính phủ, từ năm 1994 đến 2013, TP.HCM đã bán 102.396 căn hộ; Trong đó, nhà biệt thự 5.143 căn hộ, nhà phố và nhà chung cư 97.253 căn hộ. Tổng số tiền bán nhà ở đã thu được vào Kho bạc Nhà nước là 6.232 tỷ đồng. Thống kê lũy kế, kể từ ngày 6/6/2013 (ngày Nghị định số 34/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) đến hết ngày 31/12/2016, tổng số nhà ở cũ đã giải quyết bán là 999 căn, với tổng số tiền là 463,1 tỷ  đồng. Trong đó, TP.HCM đã bán nhà theo Nghị định số 34/2013 của Chính phủ là 634 căn, với tổng số tiền thu vào Kho bạc Nhà nước là 325,5 tỷ đồng và bán nhà theo Nghị định số 99/2015/NĐ-CP của Chính phủ là 365 căn, với tổng số tiền thu vào Kho bạc Nhà nước là 137,6 tỷ đồng.

TP.HCM đã chủ động trong việc phát triển nhà ở phục vụ tái định cư như chương trình 12.500 căn hộ thuộc khu đô thị mới Thủ Thiêm, khu tái định cư Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh và quỹ nhà, đất trên địa bàn 24 quận, huyện với 41.050 căn hộ và nền đất (25.720 căn hộ và 15.330 nền đất) đã xây dựng hoàn thành. Hiện, thành phố đã sử dụng 29.127 căn hộ và nền đất (16.285 căn hộ và 12.842 nền đất), chiếm tỷ lệ 71% cho việc điều chuyển, cân đối quỹ căn hộ, nền đất cho các quận - huyện để phục vụ tái định cư cho các dự án hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông; thu hồi nhà thuộc sở hữu Nhà nước; chỉnh trang đô thị, di dời nhà trên và ven kênh rạch...

Tuy nhiên, thực tế, lãnh đạo Sở Xây dựng TP.HCM cũng cho rằng, công tác tái định cư thời gian qua chủ yếu nhằm để người dân có chỗ ở, chưa quan tâm đến không gian sống và các chính sách an sinh xã hội tiếp theo, như đào tạo nghề, giải quyết công ăn việc làm tốt hơn hoặc phục hồi thu nhập, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân sau khi di dời, tái định cư. Hơn thế, do chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thay đổi, giá bồi thường đã tiếp cận sát với giá thị trường, nên phần lớn các đối tượng được bồi thường sẽ nhận tiền tự tạo lập chỗ ở mới như mua nhà ở thương mại tại các dự án, mua nhà ở riêng lẻ... phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính mà không lựa chọn phương thức nhận nhà ở tái định cư tại nguồn nhà do Nhà nước chuẩn bị sẵn. Cùng với đó, vị trí tái định cư cũng không phù hợp với nhu cầu sinh hoạt của người dân. Điều này dẫn đến nguồn nhà tái định cư đã chuẩn bị sẵn không sử dụng hết phải điều chuyển, cân đối cho các dự án tiếp theo hoặc tổ chức bán đấu giá nhằm thu hồi kinh phí nộp ngân sách.

Để tăng cường quản lý nhà thuộc SHNN, ông Danh kiến nghị UBND TP.HCM trình Chính phủ sớm ban hành các văn bản quy định về việc bán nhà ở cũ thuộc SHNN đối với các trường hợp bố trí sử dụng nhà để ở từ sau ngày 19/1/2007; UBND TP.HCM cho tiến hành rà soát quỹ đất công thành phố quản lý, dùng tiền bán nhà ở cũ để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thuộc SHNN theo Luật Nhà ở nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho các đối tượng chính sách và cán bộ, công chức thành phố;  Giao Sở Xây dựng chủ trì, triển khai cho UBND quận - huyện xác định nhu cầu tái định cư của các dự án chỉnh trang đô thị, công ích trên địa bàn từng quận - huyện, để đăng ký sử dụng nguồn nhà ở, đất ở thuộc SHNN hàng năm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.750
40.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.750
40.050
Vàng SJC 5c
39.750
40.070
Vàng nhẫn 9999
39.650
40.150
Vàng nữ trang 9999
39.350
40.150