08:33 | 08/01/2018

Thấy gì từ kinh tế thế giới năm 2018

Viện nghiên cứu kinh tế Đức (DIW) mới đây công bố báo cáo đánh giá cục diện kinh tế toàn cầu trong năm 2017 và dự báo các năm tiếp theo, với nhận định rằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới vẫn nằm trong "vùng an toàn".

Kinh tế toàn cầu năm 2018 tăng trưởng nhanh
Kinh tế thế giới năm 2017: Những mảng màu đan xen

Điểm sáng – tối trong bức tranh toàn cầu

Theo DIW, nhìn chung kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng rõ rệt, vượt ngoài mong đợi. Tuy nhiên, xu thế đó có được duy trì trong năm 2018 hay không? Rất khó để dự báo những bước đi chính trị nào sẽ được thực hiện trong năm 2018. Mỹ, Pháp và Canada có lãnh đạo mới, Đức chưa thành lập được liên minh cầm quyền sau cuộc bầu cử tháng 9/2017, và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có chủ tịch mới. Hơn thế nữa, những biến động tại các nền kinh tế đang phát triển như Argentina, Saudi Arabia và Brazil khiến triển vọng tương lai khó xác định hơn.

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới vẫn nằm trong "vùng an toàn"

Xét những phương diện tích cực, trước hết, tăng trưởng toàn cầu sẽ tiếp tục duy trì trong năm 2018 ở mức gần 4%, theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hồi tháng 10/2017. Tăng trưởng không chỉ giúp tăng ngân sách, mà còn cho phép nhà nước quản lý được một số vấn đề khó khăn như nợ xấu, thâm hụt ngân sách.

Các chuyên gia của DIW dự đoán GDP của Trung Quốc năm 2017 tăng 6,8%, còn trong năm 2018 và 2019 sẽ tăng khoảng 6,5%. Nhu cầu của các hộ gia đình và cá nhân có thể sẽ tăng theo xu hướng đi lên của thu nhập, song song với chi tiêu công.

Tuy nhiên, do áp lực từ chi phí sản xuất và tình trạng dư thừa năng lực sản xuất vẫn còn tồn tại, hoạt động đầu tư vào máy móc vẫn yếu. DIW chỉ ra rằng những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sẽ hưởng lợi trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang mô hình phát triển dựa trên tiêu dùng.

DIW dự đoán GDP của Nhật Bản sẽ tăng 1,5% trong năm 2017 và con số này của năm 2018 và 2019 sẽ là 1,2%. Xét trong quý III/2017, kinh tế của “xứ sở hoa anh đào” tăng 0,3%, sau khi ghi nhận mức 0,6% trong quý II. Xuất khẩu là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phục hồi này, vốn được hưởng lợi nhờ sự phục hồi của nền kinh tế thế giới và đồng yên yếu. Vào thời điểm đầu tư của doanh nghiệp có phần yếu đi, chi tiêu của hộ gia đình và cá nhân cũng không khởi sắc, chủ yếu do mức thu nhập không tăng nhiều.

Trong năm 2017, GDP của EU được trông đợi sẽ tăng 2,4%. Vào năm 2018, kinh tế khu vực dự kiến tăng 2,1% và vào năm 2019 là khoảng 1,7%. Ghi nhận từ tình hình quý III/2017, diễn biến trên thị trường lao động tốt hơn cũng như các điều kiện tài chính thuận lợi một lần nữa sẽ tăng nhu cầu trong nước, bao gồm cả tiêu dùng cá nhân cũng như hoạt động đầu tư.

Tại châu Âu, nhiều nước thành viên EU sẽ tiếp tục giảm nợ quốc gia, còn Eurozone cần giải quyết khủng hoảng nợ xấu trong khối các ngân hàng ở khu vực. Ngoài ra, cải cách cơ cấu thị trường lao động kiểu Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đề xuất sẽ được hoan nghênh.

Cũng có ý kiến cho rằng Eurozone có thể tránh được khủng hoảng tiền tệ, và điều đó phụ thuộc vào việc Thủ tướng Đức Angela Merkel có thành lập được chính phủ liên minh và nối lại ổn định chính trị tại nền kinh tế lớn nhất châu Âu này hay không.

Về vấn đề Brexit, nhiều khả năng EU và Anh có thể ký một thỏa thuận khôn ngoan về “cuộc chia tay” này, cho phép duy trì quan hệ thương mại khá bền vững. Rủi ro chính là thương mại có thể suy giảm và gây thiệt hại lớn cho hai bên.

Những triển vọng khác được đề cập đến bao gồm việc đàm phán giữa Mỹ, Canada và Mexico về Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sẽ đạt được kết quả, kích thích thương mại tại châu Mỹ...

Hy vọng từ nền kinh tế lớn nhất thế giới

Kinh tế Mỹ năm 2017 có thể đạt tăng trưởng ở mức 2,3%. Theo DIW, quá trình hồi phục của nền kinh tế hàng đầu thế giới sẽ được duy trì với tốc độ tăng trưởng năm 2018 và 2019 được dự đoán lần lượt là 2,5% và 2,4%.

Tiêu dùng cá nhân cũng như đầu tư của doanh nghiệp đều đã chứng kiến những kết quả tích cực và xu hướng này được cho là sẽ được giữ vững trong thời gian tới. Tiêu dùng của hộ gia đình sẽ tăng lên đáng kể, kể cả khi trong cùng thời điểm đó tỷ lệ tiết kiệm không giảm xuống.

Sự cải thiện liên tục của thị trường lao động là động lực lớn cho lĩnh vực này. Trong quý III/2017, khoảng 170.000 việc làm mới được tạo ra, tỷ lệ thất nghiệp vào tháng 11 chỉ ở mức 4,1% và vẫn được duy trì trong tháng 12. Bởi tình hình kinh tế tiếp tục cải thiện, Fed có thể dần thắt chặt chính sách tiền tệ. Bởi lý do chính là lạm phát thấp, lãi suất sẽ đi theo hướng ngược lại: tăng một cách từ từ.

Dự kiến Fed, với nhà lãnh đạo mới, sẽ tiếp tục hoặc thậm chí tăng tốc quá trình bình thường hóa chính sách tiền tệ - tín dụng thông qua việc tăng lãi suất cơ bản, cũng như thu hẹp cán cân đang rất lớn. Khi đó, đồng tiền của các nước mới nổi cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng chi phí tài chính của doanh nghiệp cũng như các nền kinh tế trên toàn thế giới.

Xuất hiện nhiều kỳ vọng rằng điều kiện kinh tế sẽ cho phép các ngân hàng trung ương lớn khác, như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thực hiện động thái tương tự như Fed. Trong trường hợp đó, các ngân hàng trung ương lớn được dự đoán sẽ bình thường hóa chính sách tiền tệ chậm hơn mức cần thiết. Rủi ro lớn nhất là thị trường có thể thử thách lãnh đạo mới của Fed, ví dụ tăng lạm phát nhanh hơn dự báo.

Bên cạnh đó, theo dự đoán, dự luật cải cách thuế của Mỹ được thông qua sẽ thực hiện những cam kết như tăng đầu tư, năng suất lao động và lương lao động trong vòng thập kỷ tới. Nhờ đó đầu tư vào Mỹ trong vài năm tới sẽ tăng mạnh hơn.

Còn một số nhân tố khác tác động đến tăng đầu tư, song sản xuất, năng suất lao động và lương lao động thì sẽ hưởng lợi từ dự luật, vấn đề chỉ là khi nào. Nếu dự luật không cho thấy hiệu quả trước cuộc bầu cử 2018 hoặc 2020, những điều khoản chính của nó có nguy cơ bị hủy bỏ một khi phe Dân chủ lên nắm quyền.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.785 22.855 26.231 26.545 30.927 30.407 202,93 208,26
BIDV 22.785 22.855 26.238 26.545 29.940 30.395 204,61 207,63
VietinBank 22.775 22.855 26.211 26.589 29.913 30.473 204,40 207,80
Agribank 22.770 22.845 26.173 26.491 29.929 30.349 204,10 207,27
Eximbank 22.780 22.870 26.244 26.586 30.062 30.453 205,32 208,00
ACB 22.800 22.870 26.266 26.595 30.154 30.455 205,28 207,85
Sacombank 22.788 22.873 26.295 26.658 30.138 30.497 205,26 208,33
Techcombank 22.765 22.865 25.998 26.700 29.724 30.546 203,68 208,98
LienVietPostBank 22.770 22.860 26.187 26.633 30.084 30.492 204,61 208,22
DongA Bank 22.790 22.860 26.290 26.590 30.070 30.440 203,80 207,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
36.980
Vàng SJC 5c
36.800
37.000
Vàng nhẫn 9999
35.960
36.360
Vàng nữ trang 9999
35.610
36.310