16:55 | 21/12/2017

Thống đốc NHTW Nhật: Không thể tăng lãi suất chỉ vì nền kinh tế cải thiện

Thống đốc NHTW Nhật (BOJ) Haruhiko Kuroda cho biết chỉ riêng sự cải thiện về kinh tế là không đủ để thu lại chính sách kích thích, trấn an thị trường rằng BOJ sẽ tụt lại sau các đối tác phương Tây trong việc thu lại chính sách nới lỏng thời khủng hoảng.

NHTW Nhật duy trì kích thích do lạm phát vẫn yếu so với tăng trưởng kinh tế
Nikkei: Kuroda được ưa chuộng tiếp tục là Thống đốc NHTW Nhật
Thách thức tiếp theo của NHTW Nhật là thoát khỏi di sản nới lỏng của Kuroda
Thống đốc NHTW Nhật Haruhiko Kuroda

Phát biểu tại buổi họp báo sau cuộc họp chính sách cuối cùng trong năm 2017 của BOJ, Thống đốc Haruhiko Kuroda nhấn mạnh, cần “kiên nhẫn” duy trì chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng khi mà lạm phát vẫn còn xa mục tiêu 2% của BOJ mặc dù nền kinh tế đang tăng trưởng khá tốt.

Kuroda cũng bác bỏ những lời chỉ trích rằng việc nới lỏng kéo dài có thể gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng Nhật Bản, cho rằng ông không thấy có vấn đề gì nổi lên trong ngành tài chính khi cho vay vẫn tăng lên.

“Mục tiêu quan trọng nhất của chúng tôi là đạt được mục tiêu lạm phát 2% sớm nhất có thể”, Kuroda phát biểu tại cuộc họp báo. “Chúng tôi sẽ không tăng lãi suất chỉ vì nền kinh tế đang được cải thiện”.

Đúng như dự đoán của các nhà kinh tế, BOJ vẫn giữ nguyên lãi suất ngắn hạn ở mức -0,1% và mức tiêu lợi suất trái phiếu 10 khoảng 0% tại cuộc họp chính sách cuối cùng của năm 2017, khép lại 1 năm mà BOJ không có thay đổi gì về chính sách.

Quyết định của BOJ được đưa ra với 8 phiếu thuận và 1 phiếu chống. Thành viên mới của Hội đồng chính sách Goushi Kataoka là người phản đối các quyết định lãi suất của BOJ lần thứ ba liên tiếp, cho rằng BOJ nên mua trái phiếu dài hạn để lợi suất trái phiếu 10 năm hoặc dài hạn hơn giảm hơn nữa.

Một dấu hiệu cho thấy niềm tin của mình về sức mạnh của sự phục hồi của kinh tế Nhật, BOJ đã điều chỉnh lại đánh giá chi tiêu vốn và duy trì quan điểm lạc quan rằng nền kinh tế đang phát triển vừa phải.

Nền kinh tế Nhật Bản đã tăng trưởng 2,5% trong quý 3 vừa qua, ghi nhận 7 tăng trưởng thứ 7 liên tiếp. Nhưng lạm phát tiêu dùng lõi vẫn còn ở mức 0,8%, thấp hơn nhiều mục tiêu 2% của BOJ và các công ty không mong đợi sự tăng giá mạnh trong những năm tới.

Một số nhà hoạch định chính sách của BOJ gần đây đã bày tỏ lo ngại về những tác dụng phụ của chính sách nới lỏng tiền tệ, bao gồm ảnh hưởng tiêu cực của lãi suất rất thấp đối với lợi nhuận của ngân hàng, cho thấy NHTW có thể phải cân nhắc nâng cao mục tiêu lợi suất hoặc làm chậm tốc độ mua vào tài sản rủi ro trong năm tới.

Tuy nhiên, Kuroda cho biết không cần phải sửa đổi khung chính sách của BOJ, bác bỏ quan điểm cho rằng NHTW nên quay lưng lại với chính sách kích cầu do lo ngại về chi phí gia tăng và lợi nhuận giảm dần.

“Chúng tôi đã làm rõ trong đánh giá toàn diện của chúng tôi vào tháng 9 năm ngoái rằng chúng tôi sẽ hướng đường cong lợi suất đến hình dạng phù hợp nhất nhìn một cách toàn diện vào các yếu tố khác nhau, bao gồm cả điều kiện tài chính. Chúng tôi đã không thực hiện bất kỳ thay đổi nào về ý tưởng đó kể từ thời điểm đó”, ông nói.

Kuroda cũng nói thêm rằng BOJ sẽ không làm chậm việc mua các quỹ ETF chỉ vì giá cổ phiếu đang tăng, cho biết bước này sẽ chỉ được thực hiện khi lạm phát đạt tới 2%.

Hầu hết các nhà phân tích mong đợi hành động tiếp theo của BOJ là việc rút lại gói kích thích, nhưng đừng mong đợi điều đó cho đến cuối năm 2018.

“Nền kinh tế (Nhật) đang trên đà vững chắc nhưng giá vẫn yếu, vì vậy BOJ sẽ không thể sớm thắt chặt”, Hiroshi Shiraishi - chuyên gia kinh tế cao cấp của BNP Paribas Securities cho biết.

“Nếu muốn thắt chặt chính sách, bước đầu tiên là tăng mục tiêu lợi suất trái phiếu 10 năm. Nhưng tôi không nghĩ rằng một bước tiến như thế sẽ được thực hiện trong tương lai gần”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 25993 26.723 29.336 29.806 202,61 211,00
BIDV 23.150 23.250 25.972 26.348 29.345 29.823 207,67 211,29
VietinBank 23.138 23.248 25.961 26.716 29.292 29.852 207,78 214,28
Agribank 23.155 23.235 25.966 26.340 29.351 29.807 207,68 211,26
Eximbank 23.140 23.240 25.978 26.326 29.437 29.831 208,43 211,23
ACB 23.160 23.240 25.993 26.328 29.536 29.842 208,75 211,44
Sacombank 23.160 23.247 25.984 26.390 29.480 29.889 207,66 212,22
Techcombank 23.130 23.250 25.745 26.468 29.114 29.953 207,08 212,63
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.936 26.391 29.481 29.893 207,91 211,81
DongA Bank 23.170 23.240 26.020 26.310 29.460 29.820 207,30 211,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.580
36.820
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.580
36.800
Vàng SJC 5c
36.580
36.820
Vàng nhẫn 9999
36.600
37.000
Vàng nữ trang 9999
36.250
36.950