4 yếu tố tích cực và triển vọng ngành Ngân hàng trong năm 2020

10:45 | 30/11/2019

Đánh giá môi trường kinh doanh ổn định, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời đang được cải thiện..., Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) mới đây đã có nhận định tích cực về triển vọng của ngành Ngân hàng trong năm 2020.

Niềm tin vào hệ thống ngân hàng được củng cố
Ổn định lãi suất, tỷ giá: Thể hiện bản lĩnh và tự tin của ngành Ngân hàng
Ảnh minh họa

Môi trường kinh doanh ổn định

Theo BSC, môi trường kinh doanh là yếu tố quan trọng hàng đầu, hiện đang được đánh giá là ổn định tại Việt Nam. Tăng trưởng GDP nhìn chung luôn được duy trì ở mức cao trong những năm vừa qua. Hỗ trợ cho đà tăng trưởng trên là hoạt động đầu tư và tiêu dùng có sự gia tăng mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang thực hiện tốt việc kiểm soát mục tiêu lạm phát. Tính đến hết tháng 11, chỉ số CPI bình quân tăng thấp ở mức 2,57% và chắc chắn sẽ dưới 4% trong năm 2019, thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra.

“Trong năm 2020, CPI sẽ tiếp tục được giữ ở mức dưới 4%”, BSC nhận định.

Tuy nhiên, phân tích của BSC cũng cho rằng, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế thế giới và các nước đối tác xuất nhập khẩu chính của 2 nước này, trong đó có Việt Nam.

Mặc dù vậy, các hiệp định lớn mà Việt Nam vừa ký kết như EVFTA, CPTPP sẽ hỗ trợ tăng trưởng xuất nhập khẩu vào các nước lớn tại châu Âu, giảm sự phụ thuộc vào 2 thị trường lớn là Mỹ và Trung Quốc như hiện nay.  

Trong điều kiện môi trường kinh doanh ổn định, BSC dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2020 có thể sẽ tiếp tục được giữ ở mức 13-14%; lãi suất liên ngân hàng và trái phiếu chính phủ tiếp tục giữ ở mức thấp; thanh khoản dồi dào và tỷ giá ổn định.

Chất lượng tài sản của ngân hàng cải thiện

Nhìn nhận về chất lượng tài sản của các ngân hàng, BSC cho biết, nợ xấu trong 9 tháng đầu năm 2019 của các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán đang ở mức 1,6%. Trong khi đó, hiện nay nhiều ngân hàng đã áp dụng thành công tiêu chuẩn Basel II trước hạn. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR Basel II) hiện nay ở mức 11,84% và đang tiếp tục được cải thiện hàng năm thông qua nhiều biện pháp.

Nhiều ngân hàng cũng đang duy trì chính sách trích lập dự phòng ở mức cao, đảm bảo phòng ngừa rủi ro trong trường hợp kinh tế biến động.

Bên cạnh đó, để đáp ứng quy định Thông tư 22 mà NHNN mới ban hành, các ngân hàng cũng đã chủ động giảm tỷ trọng cho vay vào các ngành rủi ro (bất động sản, xây dựng…), tăng cường huy động vốn dài hạn. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn hiện nay ở mức 27%.

“Vì vậy, chất lượng tài sản của các ngân hàng đang được cải thiện”, BSC nhận định.

Gia tăng lợi nhuận từ dịch vụ

Về khả năng sinh lời của các ngân hàng trong thời gian tới, phân tích của BSC cũng cho thấy những dấu hiệu tích cực.

Cụ thể, thu nhập ròng từ lãi (NII) hiện đang được cải thiện nhờ việc cơ cấu các khoản vay. Trong khi đó, các khoản ngoài lãi cũng đang là xu hướng được các ngân hàng tích cực đẩy mạnh với tốc độ tăng trưởng 2 chữ số. Trong đó, thu nhập từ phí và hoa hồng hợp tác bảo hiểm là 2 trụ cột chính cho tăng trưởng. Nhiều ngân hàng có thể sẽ ký hợp tác độc quyền và ghi nhận khoản lợi nhuận bất thường lớn trong thời gian tới như VCB, ACB...

Ngoài ra, việc các ngân hàng tập trung tiết giảm chi phí cũng sẽ giúp giảm chỉ số thu nhập/chi phí (CIR), gia tăng khả năng sinh lời.

“Trong năm 2020 các ngân hàng có thể giảm chi phí dự phòng nhờ cải thiện chất lượng tài sản, từ đó giúp gia tăng lợi nhuận”, BSC nhận định.

Định giá còn thấp, cổ phiếu ngân hàng có nhiều triển vọng

Cuối cùng, phân tích của BSC cũng cho rằng định giá cổ phiếu của các ngân hàng Việt Nam hiện nay đang ở mức thấp so với khu vực. Do vậy, cổ phiếu ngân hàng còn nhiều triển vọng trong năm 2020.

Cụ thể, P/E của các ngân hàng Việt Nam hiện đang ở mức 8x, thấp hơn mức 22x trong khu vực. Trong khi đó, P/B các ngân hàng Việt Nam ở mức 1,5x so với P/B trong khu vực là 2x.

Thanh Tùng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950