Các ngân hàng sẵn sàng phục vụ quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam - New Zealand

16:18 | 29/10/2019

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho biết, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đã thiết lập 61 quan hệ đại lý với các đối tác tại New Zealand, tích cực và sẵn sàng phục vụ quan hệ thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp và thương nhân hai nước. 

Ngày 29/10/2019, tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Thống đốc Lê Minh Hưng đã làm việc với ông Grant Robertson, Bộ trưởng Bộ Tài chính New Zealand.

Tại buổi tiếp, Thống đốc Lê Minh Hưng chào mừng Đoàn công tác của Bộ Tài chính New Zealand tới thăm và làm việc tại NHNN. Hai bên cùng nhau chia sẻ quan điểm về tình hình khu vực và quốc tế, cũng như thảo luận về tiềm năng hợp tác song phương trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, góp phần phát triển hơn nữa quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và New Zealand.

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng phát biểu tại buổi tiếp

Thống đốc Lê Minh Hưng thông báo tới Ngài Bộ trưởng về những thành tựu của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực tài chính – ngân hàng nói riêng thời gian qua.

Thống đốc cho biết, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn và là nền kinh tế định hướng xuất khẩu, vì vậy, Chính phủ Việt Nam luôn chú trọng công tác bám sát, dự báo và phân tích tình hình thế giới để điều hành chính sách theo nguyên tắc thận trọng, linh hoạt nhằm giảm thiểu tác động từ bên ngoài.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới vẫn chưa có dấu hiệu tăng tốc, nhiều quốc gia tiếp tục đưa ra các chỉ số kinh tế chưa lạc quan về sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu, lạm phát... Việt Nam nhận định rằng diễn biến kinh tế thế giới từ nay đến hết năm sẽ tiếp tục phức tạp, khó lường. Đối với thị trường tiền tệ, tài chính, những diễn biến phức tạp trong năm 2019 khiến nhiều NHTW trên thế giới đảo chiều CSTT theo hướng nới lỏng, hạ lãi suất.

Trước tình hình đó, chủ trương xuyên suốt của Chính phủ Việt Nam là kiên trì định hướng ổn định vĩ mô, cải cách toàn diện nền kinh tế đảm bảo đáp ứng yêu cầu nội tại, thích ứng với sự thay đổi từ bên ngoài và huy động tối đa nội lực để giảm bớt tác động từ các yếu tố bên ngoài.

Về chính sách tiền tệ, theo Thống đốc Lê Minh Hưng, NHNN Việt Nam tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình kinh tế thế giới, các cân đối vĩ mô và diễn biến thị trường, làm nền tảng điều hành CSTT, lãi suất, tỷ giá chủ động, linh hoạt, thận trọng, kiểm soát lạm phát bình quân dưới 4% cho cả năm 2019; duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối; đồng thời với đó là tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Đối với chính sách tín dụng, NHNN tiếp tục điều hành, đảm bảo tăng trưởng tín dụng phù hợp với các cân đối vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hệ thống TCTD mở rộng tín dụng hiệu quả, tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, đi đôi với tăng cường hiệu quả của tín dụng chính sách, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán.

Ông Grant Robertson, Bộ trưởng Bộ Tài chính New Zealand

Về quan hệ kinh tế - thương mại, Việt Nam là một trong những đối tác thương mại quan trọng của New Zealand tại ASEAN với kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều trong năm 2018 đạt 1,1 tỷ USD. Hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu tổng kim ngạch thương mại và dịch vụ hai chiều lên mức 2 tỷ USD vào năm 2020. Bên cạnh đó, hai bên đã và đang khai thác hiệu quả lợi thế có được từ Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Australia – New Zealand (AANZFTA) và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đánh giá cao tinh thần hợp tác hiệu quả giữa hai bên trong tiến trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN. Ngoài ra, NHNN và Bộ Tài chính Việt Nam đã cùng các đối tác New Zealand và Australia thảo luận sơ bộ về việc đàm phán nâng cấp Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Úc – New Zealand.

Quang cảnh buổi làm việc

Thống đốc cho biết, trong hợp tác song phương lĩnh vực ngân hàng, tuy các cơ quan quản lý, tiền tệ ngân hàng hai nước chưa có điều kiện ký kết các văn bản hợp tác, nhưng các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đã thiết lập 61 quan hệ đại lý với các đối tác tại New Zealand, tích cực và sẵn sàng phục vụ quan hệ thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp và thương nhân hai nước.

Về nhiệm kỳ Giám đốc Nhóm nước cổ đông 2020-2021, với tư cách là đại diện phần vốn góp của Việt Nam tại AIIB, NHNN đánh giá cao thực tiễn hợp tác trong cơ chế đồng thuận tại Nhóm nước cổ đông AIIB mà Việt Nam và New Zealand là thành viên. Trong năm 2020, khi Việt Nam tiếp nhận vị trí Giám đốc Nhóm, NHNN tin tưởng rằng các bên sẽ tiếp tục phát huy tinh thần đồng thuận để giải quyết các vấn đề phát sinh, góp phần cho một nhiệm kỳ thành công của Việt Nam trên cương vị Giám đốc Nhóm.

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng chụp ảnh lưu niệm cùng ông Grant Robertson và Đoàn công tác

Về phần mình, ông Grant Robertson, Bộ trưởng Bộ Tài chính New Zealand gửi lời cảm ơn Thống đốc Lê Minh Hưng đã dành thời gian tiếp đoàn. Cung cấp một số thông tin về tình hình kinh tế thế giới và New Zealand, Bộ trưởng Grant Robertson đã trao đổi về quan hệ hợp tác song phương trong bối cảnh Việt Nam - New Zealand hướng đến quan hệ Đối tác Chiến lược và hợp tác Việt Nam - New Zealand trong khuôn khổ Nhóm nước cổ đông tại Ngân hàng Đầu tư phát triển hạ tầng Châu Á (AIIB).

Bộ trưởng Tài chính New Zealand Grant Robertson bày tỏ tin tưởng, với quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp, được xây dựng và vun đắp qua nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước, hai bên sẽ đạt được mục tiêu đề ra.

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950