Cán cân thương mại có thể cân bằng vào cuối năm 2021

17:52 | 30/09/2021

Có khả năng sẽ cân bằng cán cân thương mại vào cuối năm 2021, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, nói tại buổi Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương quý III/ 2021 diễn ra chiều 30/9.

can can thuong mai co the can bang vao cuoi nam 2021
Ảnh minh họa

Theo ông Hải, hoạt động xuất nhập khẩu gắn chặt với hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và các hoạt động khai thác khác. Trong quý II và quý III, dịch Covid-19 bùng phát rất mạnh đã tác động trực tiếp đến các trung tâm sản xuất công nghiệp lớn như Bắc Ninh, Bắc Giang và các tỉnh phía Nam như TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An và 13 tỉnh thành ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Do chỉ riêng khu vực 19 tỉnh thành phía Nam đã tương đương 45% kim ngạch xuất khẩu cả nước, điều đó cho thấy các tỉnh thành thời gian qua bị tác động của dịch và áp dụng các biến pháp giãn cách xã hội đã tác động nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và qua đó tác động tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu của nước ta.

Theo đại diện Bộ Công Thương, giai đoạn nền kinh tế bị ảnh hưởng sâu bởi Covid-19, nhập siêu đã quay trở lại với mức nhập siêu khá lớn, khoảng 2 tỷ USD trong giai đoạn tháng 6-7. Song đến tháng 8, tình hình đã được cải thiện hơn với con số nhập siêu còn hơn 100 triệu USD và sang tháng 9, ước tính cán cân thương mại hàng hóa đã quay trở lại xuất siêu với khoảng 500 triệu USD.

"Nhìn chung, 9 tháng đang nhập siêu khoảng 2,13 tỷ USD, nếu so với kim ngạch xuất khẩu chỉ tương đương 0,8%, đây khoảng cách không phải quá lớn. Chúng ta vẫn còn 3 tháng trước mắt của quý IV. Chính vì vậy, nếu như không có biến động lớn về kiểm soát dịch bệnh và các doanh nghiệp phía Nam lấy lại được đà tăng trưởng thì đến cuối năm 2021, cán cân thương mại của Việt Nam có thể cân bằng. Tình hình lạc quan hơn chúng ta có thể xuất siêu nhẹ", ông Trần Thanh Hải nhận định.

Trước đó, thông tin về các hoạt động của ngành Công Thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước trong tình trạng xấu nhất từ trước đến nay. Mặc dù tăng trưởng âm trong quý III/ 2021, tuy nhiên ngành Công Thương vẫn có một số chỉ tiêu đóng góp cho sự cải thiện của tình hình phát triển kinh tế nói chung, cũng như là sự phát triển công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, thị trường trong nước 9 tháng năm 2021.

Cụ thể, sản xuất công nghiệp 9 tháng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhất là tại các địa phương có khu công nghiệp lớn phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp quý III/2021 giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2020, cao hơn so với cao hơn mức tăng trưởng GDP chung của toàn nền kinh tế (tăng 1,42%).

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng 9/2021 ước tính tăng 5% so với tháng trước và giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, IIP ước tính tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù cao hơn tốc độ tăng 2,4% của cùng kỳ năm 2020 nhưng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 5,5% (cùng kỳ năm 2020 tăng 3,8%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,3% (cùng kỳ năm 2020 tăng 2,8%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,6% (cùng kỳ năm 2020 tăng 3,3%); riêng ngành khai khoáng giảm 6,4% (cùng kỳ năm 2020 giảm 7,4%).

Điểm sáng là chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2021 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất kim loại tăng 28,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,7%; sản xuất trang phục tăng 4,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 3,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 2%.

Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,4%; sản xuất đồ uống giảm 4,2%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 1,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 1,1%...

Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2021 bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh. Tuy nhiên, với sự vào cuộc rất kịp thời, sự chỉ đạo linh hoạt trong bối cảnh mới, sự nỗ lực của toàn bộ hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trung ương và địa phương, tình hình dịch bệnh đang dần được kiểm soát.

"Các giải pháp đồng bộ hỗ trợ, khôi phục sản xuất kinh doanh đã bắt đầu có tác dụng, sản xuất công nghiệp tháng 9 đã có dấu hiệu khởi sắc. Từ tháng 10/2021, nếu đà kiểm soát dịch bệnh theo chiều hướng khả quan như hiện nay, sản xuất công nghiệp trong quý IV sẽ tăng trưởng cao hơn quý III, góp phần vào thực hiện mục tiêu năm 2021", Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nói.

Trần Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.605 22.835 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.635 22.835 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.615 22.835 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.610 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.630 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.633 22.848 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.600 22.830 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.630 22.810 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.650 22.810 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.300
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.700