Thế khó của các nhà hoạch định chính sách tiền tệ

07:00 | 06/12/2021

Trong bài viết đăng trên website của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tobias Adrian - Cố vấn tài chính kiêm Giám đốc Ban Thị trường vốn và tiền tệ và Gita Gopinath - Nhà kinh tế trưởng của IMF cảnh báo, áp lực lạm phát gia tăng và biến thể Omicron đang tạo ra những bất ổn mới, đẩy các nhà hoạch định chính sách tiền tệ đối mặt với những vấn đề đầy thách thức.

Áp lực lạm phát gia tăng

Theo các nhà kinh tế của IMF, giá năng lượng và lương thực tăng đã đẩy lạm phát tăng cao ở nhiều quốc gia và những yếu tố này có thể tiếp tục thúc đẩy lạm phát vào năm 2022, đặc biệt là giá lương thực.

Ngay cả lạm phát cơ bản (đã loại bỏ giá nhiên liệu và thực phẩm) cũng tăng, nhưng mức độ tăng có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Trong số các nền kinh tế phát triển, lạm phát cơ bản tăng mạnh nhất ở Mỹ, tiếp theo là Vương quốc Anh và Canada. Trong khi tại khu vực đồng euro, mức tăng ít hơn nhiều. Cũng có những dấu hiệu hạn chế về áp lực lạm phát cơ bản ở châu Á, bao gồm cả ở Trung Quốc, Nhật Bản và Indonesia. Còn trong số các thị trường mới nổi, lạm phát cơ bản tăng đáng kể ở Thổ Nhĩ Kỳ.

the kho cua cac nha hoach dinh chinh sach tien te
Lạm phát và Covid-19 là hai rủi ro lớn nhất của kinh tế toàn cầu

Theo các nhà kinh tế của IMF, sự gia tăng lạm phát cơ bản phản ánh nhiều yếu tố. Nhu cầu đã tăng trở lại nhờ các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ, đặc biệt là ở các nền kinh tế tiên tiến. Bên cạnh đó, sự gián đoạn nguồn cung do đại dịch và biến đổi khí hậu, cũng như sự thay đổi chi tiêu cho hàng hóa thay vì dịch vụ đã làm tăng áp lực giá cả. Ngoài ra, áp lực tiền lương tại một số phân khúc thị trường lao động...

Mặc dù vậy các nhà kinh tế kỳ vọng, sự mất cân đối về cung và cầu sẽ giảm dần theo thời gian, từ đó sẽ giảm bớt một số áp lực về giá ở các nước. Bên cạnh đó, tình trạng chậm trễ vận chuyển, chậm trễ giao hàng và tình trạng thiếu chất bán dẫn có thể sẽ cải thiện trong nửa cuối năm 2022. Tổng cầu sẽ giảm xuống khi các biện pháp hỗ trợ tài khóa kết thúc vào năm 2022.

Tuy nhiên cần lưu ý là hoạt động kinh tế đang phục hồi nhanh chóng ở một số quốc gia, chẳng hạn như Mỹ có tốc độ phục hồi nhanh nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Tại các quốc gia này, lạm phát cơ bản đã tăng mạnh so với mức trước khủng hoảng. Điều đó cho thấy áp lực lạm phát vẫn lớn hơn ở các quốc gia có nhu cầu phục hồi nhanh.

Phản ứng chính sách phù hợp

Khi đại dịch bùng phát, các nhà hoạch định chính sách trên khắp thế giới đều nới lỏng đáng kể chính sách tiền tệ và mở rộng chính sách tài khóa. Những động thái này đã giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bất chấp việc đóng cửa nền kinh tế và những cú sốc về sức khỏe gây ra một cuộc suy thoái lịch sử.

Theo các nhà kinh tế của IMF, sự kết hợp của lạm phát rất thấp và nhu cầu yếu đã tạo cơ sở vững chắc cho các chính sách tiền tệ siêu nới lỏng. Tuy nhiên bước sang năm 2021, lạm phát đã tăng mạnh và có khả năng cao hơn trong thời gian dài hơn so với suy nghĩ trước đây do sự gián đoạn nguồn cung và nhu cầu tăng cao kéo dài lâu hơn dự kiến. Điều đó có nghĩa là lãi suất thực tế thậm chí còn thấp hơn trước đây, hay nói cách khác chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng tại nhiều quốc gia.

Vì vậy theo các nhà kinh tế Tobias Adrian và Gita Gopinath, ở những quốc gia mà nền kinh tế đang tiếp tục phục hồi và áp lực lạm phát ngày càng gay gắt thì việc đẩy nhanh quá trình bình thường hóa chính sách tiền tệ là rất thích hợp. Chẳng hạn như tại Mỹ, sẽ là hợp lý nếu Fed tăng tốc độ thu hẹp chương trình mua tài sản và đưa ra lộ trình tăng lãi suất chính sách.

Tuy nhiên, bài toán với các ngân hàng trung ương của thị trường mới nổi lại không đơn giản như vậy. Trước nguy cơ lạm phát cao hơn so với các nền kinh tế phát triển, nhiều nền kinh tế mới nổi như Brazil và Nga đã buộc phải tăng mạnh lãi suất chính sách. Điều đang nói là việc thắt chặt như vậy diễn ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp và có thể tiếp tục làm giảm sản lượng và việc làm.

Không chỉ vậy các thị trường mới nổi còn phải đối mặt với những thách thức nếu như sự thắt chặt tiền tệ của các nền kinh tế tiên tiến khiến dòng vốn đảo chiều và gây áp lực lên tỷ giá hối đoái. Điều đó có thể khiến các thị trường này phải thắt chặt hơn nữa.

Trong khi đó rủi ro của đại dịch Covid-19 vẫn là rất lớn khi xuất hiện biến thể Omicron. Vì vậy, theo các nhà kinh tế của IMF, các nhà hoạch định chính sách phải hiệu chỉnh cẩn thận chính sách của mình phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia.

Cũng cần lưu ý, một phản ứng mạnh mẽ hơn của Fed để giảm thiểu rủi ro lạm phát có thể dẫn đến biến động thị trường và tạo ra khó khăn ở những nơi khác - đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Để tránh điều đó, những thay đổi về chính sách cần phải được thông báo rõ ràng. Với các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, cũng nên có những giải pháp để ứng phó với việc tăng lãi suất của nền kinh tế phát triển.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.560 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.600 22.880 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.650 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.830 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.610 22.902 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.595 22.875 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.640 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950