Chính sách tiền tệ: Linh hoạt, thận trọng

10:03 | 10/11/2021

NHNN vẫn đang kiên định với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt thận trọng, theo sát diễn biến kinh tế trong nước và thế giới; đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sach vĩ mô khác để hỗ trợ tăng trưởng cũng như kiểm soát lạm phát.

chinh sach tien te linh hoat than trong Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, hiệu quả
chinh sach tien te linh hoat than trong Điều hành chính sách tiền tệ nhất quán, linh hoạt góp phần phục hồi kinh tế
chinh sach tien te linh hoat than trong Điều hành chính sách tiền tệ: Áp lực ngắn hạn, rủi ro trung hạn

Bài toán khó của các NHTW

Biến chủng delta lan rộng tại nhiều quốc gia đang đe dọa đà phục hồi của kinh tế toàn cầu. Trong khi đó lạm phát lại có xu hướng tăng cao đang đặt một bài toán khó cho các NHTW trên toàn thế giới. Bởi nếu thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát, lại lo ảnh hưởng đến tăng trưởng; còn nếu tiếp tục nới lỏng để hỗ trợ tiến trình phục hồi kinh tế, lại lo lạm phát tăng.

Trong bối cảnh hiện tại, không ít NHTW đã lựa chọn giải pháp thu hẹp dần các biện pháp kích thích đã triển khai khi đại dịch Covid-19 bùng phát, song vẫn duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ đà phục hồi.

chinh sach tien te linh hoat than trong
Các ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp

Chẳng hạn như Fed, tại cuộc họp chính sách vừa kết thúc hôm 4/11, mặc dù vẫn giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức gần bằng 0%, song cơ quan này đã thông báo sẽ bắt đầu giảm tốc độ mua vào tài sản ngay cuối tháng này và sẽ thu hẹp mạnh hơn trong tháng 12 tới. Đáng chú ý, quan điểm về lạm phát của Fed cũng có sự thay đổi khi cơ quan này thừa nhận, việc tăng giá diễn ra nhanh chóng và lâu dài hơn so với dự.

Trước đó, tại cuộc họp chính sách ngày 28/10, NHTW châu Âu (ECB) cũng quyết định duy trì các mức lãi suất chính sách ở mức thấp kỷ lục như lãi suất tái cấp vốn ở mức 0%; lãi suất cho vay ở mức 0,25% và lãi suất tiền gửi ở mức -0,5%. Tuy nhiên cơ quan này cũng giảm quy mô mua trái phiếu hằng tháng trong bối cảnh các hoạt động kinh tế của khu vực đang phục hồi và lạm phát tăng cao hơn.

Thậm chí, lạm phát tăng cao còn khiến không ít NHTW phải tăng lãi suất để kiềm chế như các NHTW thuộc khu vực châu Mỹ Latinh. NHTW Nga cũng vừa tăng mạnh lãi suất cơ bản 0,75 điểm phần trăm lên 7,5%. Đây là lần tăng lãi suất thứ 6 liên tiếp của NHTW Nga, song cơ quan này vẫn phát đi tín hiệu có thể tiếp tục tăng lãi suất trong thời gian tới trong bối cảnh lạm phát tăng cao. Thông cáo phát đi sau quyết định tăng lãi suất cho biết: “Hội đồng quản trị của NHTW Nga, ngày 22/10/2021 đã thông qua quyết định nâng lãi suất cơ bản 0,75 điểm phần trăm lên 7,5%. Lạm phát đã cao hơn đáng kể so với dự báo của NHTW. Nhu cầu đang tăng cao hơn so với khả năng tăng sản lượng đã góp phần vào lạm phát”.

Trong khi một số NHTW khác thắt chặt lại chính vì lo ngại bất ổn trên thị trường tài chính như NHTW Hàn Quốc khi mà chính sách nới lỏng tiền tệ thời gian qua đã đẩy nợ gia đình và giá bất động sản tăng vọt.

Theo ông Tobias Adrian - Cố vấn tài chính kiêm Giám đốc Ban Thị trường vốn và tiền tệ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các NHTW toàn cầu sẽ phải đối mặt với sự đánh đổi khó khăn giữa hỗ trợ đà phục hồi kinh tế, giải quyết lạm phát và duy trì ổn định tài chính giữa bối cảnh triển vọng lạm phát rất bất ổn.

Thế nhưng không ít NHTW vẫn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ nền kinh tế ứng phó với đại dịch. Chẳng hạn như NHTW Nhật Bản (BoJ) quyết định giữ nguyên lãi suất ngắn hạn ở mức âm 0,1% và lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở khoảng 0% để duy trì lãi suất cho vay với hộ gia đình và doanh nghiệp ở mức thấp trong bối cảnh cơ quan này hạ dự báo về lạm phát và tăng trưởng nền kinh tế nước này trong tài khoá 2021.

“Linh hoạt, thận trọng” là cần thiết

Đối với Việt Nam, NHNN vẫn đang kiên định với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt thận trọng, theo sát diễn biến kinh tế trong nước và thế giới; đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sach vĩ mô khác để hỗ trợ tăng trưởng cũng như kiểm soát lạm phát.

Nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, sự thận trọng của NHNN là hoàn toàn hợp lý, bởi mặc dù lạm phát trong nước vẫn đang được kiểm soát ở mức thấp, nhưng áp lực lạm phát thời gian tới là rất lớn khi mà giá nhiều nguyên vật liệu, đặc biệt là xăng dầu đang có xu hướng tăng nhanh. Theo TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, áp lực lạm phát hiện tăng khá rõ, tuy nhiên chi phí, giá cả hàng hoá chưa thể tăng ngay, do sức cầu còn yếu. Theo đó, CPI bình quân cả năm 2021 dự báo chỉ ở mức 2,3-2,5%. Tuy nhiên năm 2022, với đà phục hồi của nền kinh tế dự báo lạm phát sẽ tăng cao hơn.

Trong khi đó dư địa của chính sách tiền tệ ngày càng bị thu hẹp sau nhiều giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đã được triển khai trong thời gian qua. Theo đó, hiện mặt bằng lãi suất đang đứng ở mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây nên khó có thể giảm thêm. Báo cáo của SSI cho thấy, tính đến cuối tháng 09/2021, các NHTM đã giảm mặt bằng lãi suất cho vay khoảng 0,55%/năm. Lãi suất huy động cũng đã giảm khoảng 6 - 20 điểm cơ bản cho kỳ hạn 12 tháng trong 9 tháng đầu năm 2021.

Hiện ngành Ngân hàng vẫn đang quyết liệt triển khai các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, miễn giảm lãi suất, phí; tiếp tục cho vay mới với lãi suất thấp hơn thời kỳ trước dịch để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ứng phó với đại dịch Covid-19 và phục hồi sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, “về lâu dài, các quốc gia chắc chắn sẽ phải thắt chặt, bởi đó là nguyên tắc, không thể bơm tiền ra mãi được, kể cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá nếu duy trì nới lỏng quá lâu sẽ phương hại tới sản xuất”.

Giới chuyên gia cũng nhận định, thời gian qua NHNN đã có sự điều hành chính sách tiền tệ vô cùng chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Kinh tế vĩ mô ổn định là nền tảng để nền kinh tế phục hồi nhanh và bền vững hơn trong thời gian tới.

“NHNN đã rất nhịp nhàng trong việc điều tiết bơm tiền ra, hút tiền về, trên cơ sở như vậy đã giúp giá trị đồng Việt Nam là một trong số ít đồng tiền lên giá (dù không quá cao) so với USD và một số ngoại tệ mạnh. Nhìn chung, có thể nói cơ bản chúng ta duy trì tốt cân đối vĩ mô tương đối ổn định”, một chuyên gia chia sẻ.

TS. Châu Đình Linh cho rằng, chính sách tiền tệ vẫn sẽ được NHNN điều hành chủ động, phù hợp nhằm hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế phục hồi, song mục tiêu cao nhất vẫn là đảm bảo an toàn vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

Về định hướng điều hành chính sách tiền tệ thời gian tới, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, NHNN tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường; Tiếp tục triển khai các chính sách, giải pháp đang thực hiện hỗ trợ tháo gỡ khó khăn do Covid-19, dành tối đa mọi nguồn lực hiện có, đảm bảo hiệu quả, thiết thực, trong khuôn khổ quy định của pháp luật; đồng thời sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn cho phục hồi nền kinh tế ngay khi dịch bệnh được kiểm soát.

Minh Khuê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.250 23.536 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.200
67.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.200
67.200
Vàng SJC 5c
66.200
67.220
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000