Cần có gói hỗ trợ đặc biệt về tài khóa và tiền tệ

09:52 | 06/12/2021

Yêu cầu phải có gói hỗ trợ đặc biệt về tài khóa và tiền tệ là rất cấp thiết, nếu không chúng ta sẽ lỡ nhịp và không đạt kế hoạch 5 năm đã đề ra.

Ngày 5/12, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức "Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021: Phục hồi và Phát triển bền vững". Tại diễn đàn, các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, những thách thức hiện nay của Việt Nam là dịch bệnh còn phức tạp, nguồn cung vắc xin chưa chắc chắn, kinh tế đang có dấu hiệu lỡ nhịp, tụt hậu... Do vậy, yêu cầu phải có gói hỗ trợ đặc biệt về tài khóa và tiền tệ là rất cấp thiết, nếu không chúng ta sẽ lỡ nhịp và không đạt kế hoạch 5 năm đã đề ra.

Quốc hội sẽ họp bất thường quyết định gói hỗ trợ phục hồi kinh tế

Khai mạc diễn đàn, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, hai năm qua, dịch bệnh Covid-19 đã gây ra thiệt hại nặng nề cả về kinh tế, xã hội. Năm 2020, Việt Nam đã kiểm soát tốt dịch bệnh và duy trì được tăng trưởng kinh tế 2,91%, là một trong những nước có tăng trưởng dương cao nhất thế giới. Song năm 2021 với dịch bệnh bùng phát lần thứ tư gây thiệt hại rất nặng nề cho cả kinh tế và các lĩnh vực xã hội. Quý 3 đã tăng trưởng âm 6,7%, 9 tháng chỉ tăng trưởng 1,42%. Dự kiến cả năm chúng ta vẫn có tăng trưởng dương nhưng chắc chắn không đạt được mục tiêu trong Nghị quyết của Đảng và Quốc hội đã đề ra.

Nhìn lại giai đoạn vừa qua, cũng như nhiều nước trên thế giới Việt Nam cũng đã sử dụng rất linh hoạt và khá đồng bộ các chính sách tài khóa và tiền tệ, cũng như các chính sách vĩ mô khác để ứng phó với dịch bệnh và hỗ trợ cho kinh tế - xã hội. Tổng quy mô các gói hỗ trợ về tài khóa, tiền tệ của Việt Nam theo tính toán của các chuyên gia trong 2 năm 2020-2021 khoảng 4% GDP, trong đó gói về tài khóa là khoảng 2,9%, về tiền tệ khoảng 1,1%, thấp hơn so mức bình quân của các nước trên thế giới.

can co goi ho tro dac biet ve tai khoa va tien te
Toàn cảnh diễn đàn

Quốc hội cũng đã ban hành nghị quyết quyết định các khung khổ về chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, về tài chính ngân sách, vay và trả nợ công, đầu tư công và kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế của giai đoạn 2021-2025. Đồng thời, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV vừa qua đã ban hành Nghị quyết giao Chính phủ xây dựng và triển khai theo thẩm quyền Chương trình tổng thể về phòng chống dịch Covid-19 theo phương châm thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19. Đồng thời với đó là xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình tổng thể về phục hồi và phát triển kinh tế.

Nghị quyết của Quốc hội cũng giao Chính phủ xây dựng các gói chính sách về tài khóa và tiền tệ để hỗ trợ cho hai chương trình này, phục vụ cho mục tiêu là phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian tới cũng như phục hồi và phát triển kinh tế. Dự kiến trong cuối tháng 12 này, nếu chuẩn bị được hoàn tất, đầy đủ, Quốc hội sẽ tổ chức một kỳ họp bất thường vào cuối năm để xem xét vấn đề rất quan trọng này cùng với những vấn đề rất cấp bách khác.

Cần phải có gói hỗ trợ đặc biệt

Tại diễn đàn, TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, đại diện nhóm nghiên cứu của Thường trực Ủy ban Kinh tế và các chuyên gia đã trình bày một số gợi ý chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ phục hồi kinh tế - xã hội. Theo đó để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay, kinh nghiệm quốc tế là dùng cả hai công cụ chính sách tài khóa và tiền tệ, trong đó tài khóa là chủ lực.

Đặc biệt trước những thách thức dịch bệnh còn phức tạp, nguồn cung vắc xin chưa chắc chắn, kinh tế “đang có dấu hiệu lỡ nhịp, tụt hậu”, cải cách thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh, cơ cấu lại nền kinh tế chậm, nợ xấu gia tăng… yêu cầu phải có gói hỗ trợ đặc biệt về tài khóa và tiền tệ là rất cấp thiết, nếu không ta sẽ lỡ nhịp, không đạt kế hoạch 5 năm đã đề ra. Hơn thế cùng với việc phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách khác, gói hỗ trợ cần có quy mô đủ lớn, thời gian đủ dài, có trọng tâm, trọng điểm; hỗ trợ cả tổng cung và tổng cầu; khả năng khả thi và triển khai nhanh đồng thời đảm bảo thực hiện đa mục tiêu.

Theo TS. Cấn Văn Lực, chính sách tài khóa cần có quy mô khoảng 389.000 tỷ đồng, tương đương 4,79% GDP. Trong đó bao gồm tăng đầu tư khoảng 150.000 tỷ đồng trong 2 năm cho y tế, đào tạo nghề, chống dịch và đầu tư cho SCIC. Hỗ trợ lãi suất 20.000 - 30.000 tỷ đồng, bảo lãnh vay vốn 80.000 tỷ đồng và thực hiện một số chính sách giảm thuế, phí…

Về chính sách tiền tệ, nhóm nghiên cứu đề xuất tiếp tục gia hạn thực hiện Thông tư 14/2021/TT-NHNN; hỗ trợ các tổ chức tín dụng giảm lãi suất thêm khoảng 0,5 - 1% trong năm 2022 và duy trì trong năm 2023; cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng để cho vay nhà ở (nhà ở thu nhập thấp, nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ...) với quy mô khoảng 65.000 tỷ đồng. Cùng với đó giữ nguyên tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, linh hoạt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 13 - 14% trong năm 2022 - 2023; luật hóa việc xử lý nợ xấu…

Cùng với các chính sách an sinh xã hội khác, tổng hợp các chính sách hỗ trợ này có giá trị ước khoảng 843.845 tỷ đồng, tương đương khoảng 10,38% GDP.

Về nguồn lực, nhóm nghiên cứu tính toán có thể tăng thâm hụt ngân sách thêm 1% GDP mỗi năm trong 2 năm 2022 - 2023. Kết hợp với huy động nguồn lực từ tiết giảm chi phí (khoảng 29,2 nghìn tỷ đồng); đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn (khoảng 80.000 tỷ đồng), phát hành trái phiếu Chính phủ; rà soát các quỹ ngoài ngân sách, quỹ tại địa phương; và sử dụng một phần dự trữ ngoại hối nếu cần (khoảng 45.400 tỷ đồng). Tổng số các giải pháp huy động nguồn lực ước khoảng 445.760 tỷ đồng.

Với kế hoạch gói hỗ trợ này, các chuyên gia ước tính trong kịch bản thông thường sẽ làm tăng GDP năm 2022 thêm khoảng 6% và năm 2023 thêm 7,5%. Thâm hụt ngân sách năm 2022 có thể lên tới 5,08% GDP và 5,97% GDP trong năm 2023. Nợ công trong kịch bản thông thường có gói hỗ trợ sẽ khoảng 44,8% GDP trong năm 2022 và 42,8% trong năm 2023. Nguồn tiền được giải ngân cũng sẽ khiến áp lực lạm phát tăng. Lạm phát năm 2022 - 2023 được dự báo ở mức 3,5 - 3,9%. Dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tăng từ 0,5-1,5% trong năm 2022-2023.

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà:

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế

Tham gia phiên thảo luận Chuyên đề về phối hợp các chính sách tài khóa, tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, tạo nguồn lực ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi kinh tế, tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam 2021, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, hai năm qua NHNN Việt Nam cũng như các NHTW trên thế giới đều trong trạng thái là hỗ trợ cho nền kinh tế để phục hồi và phát triển bền vững trong tương lai.

Theo Phó Thống đốc, chính sách tiền tệ (CSTT) tác động đến nền kinh tế trên 2 khía cạnh, thứ nhất là lượng, thứ hai là giá. Về lượng, mục tiêu của hệ thống ngân hàng là đảm bảo và duy trì thanh khoản của nền kinh tế. Hiện nay NHNN đang điều hành để đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế, thanh khoản cho hệ thống các TCTD và cho các doanh nghiệp.

Theo đó, cung ứng tiền của NHNN trong hai năm qua đã hỗ trợ nền kinh tế rất lớn. Chẳng hạn như việc NHNN mua ngoại tệ, đến nay khoảng 25 tỷ USD, đã giúp bơm ra thị trường lượng tiền đồng tương ứng để hỗ trợ thanh khoản chung cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, NHNN đã duy trì thanh khoản rất tốt trên thị trường liên ngân hàng. Với thị trường mở, NHNN luôn luôn cung ứng đều đặn hàng ngày với mức lãi suất thấp so với trước đây để hỗ trợ cho các TCTD khi cần tiếp cận vốn từ NHNN.

Về thanh khoản cho doanh nghiệp, Phó Thống đốc cho biết, hiện doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong trả nợ cũng như cho vay mới. Vì vậy, NHNN đã cho phép các TCTD cơ cấu lại nợ cho các doanh nghiệp. Bản chất là kéo dài dòng tiền và duy trì thanh khoản cho doanh nghiệp, nhưng với điều kiện là ngân hàng phải đánh giá khả năng trả nợ trong tương lai của doanh nghiệp.

“Năm nay, NHNN duy trì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 12% và có điều chỉnh linh hoạt so với tình hình thực tế. Đến cuối tháng 11 dư nợ tín dụng tăng trên 10%, tương đối phù hợp với mục tiêu NHNN đưa ra. NHNN cũng đã sẵn sàng phát tín hiệu có thể nới tăng trưởng tín dụng cho tháng cuối cùng của năm 2021 này”, ông thông tin.

Ngoài ra, NHNN cũng đã thực hiện chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ trong việc bơm tiền trực tiếp cho các Chương trình mục tiêu, như: tái cấp vốn cho NHCSXH, tái cấp vốn cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam...

Về giá, trong năm 2020, NHNN đã 3 lần cắt giảm các mức lãi suất điều hành. Đồng thời chỉ đạo các TCTD tiết giảm tối đa chi phí, giảm lợi nhuận để giảm lãi suất chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp. Nhờ đó đến nay mặt bằng lãi suất đã giảm 1,5-2%. Cụ thể, lãi suất huy động đến nay đã giảm khoảng 1,5%, lãi suất cho vay giảm mạnh hơn khoảng 1,77% so với đầu năm 2020…

Về phối hợp tài khóa và tiền tệ, Phó thống đốc cho biết, NHNN đã duy trì lượng thanh khoản rất tốt cho thị trường, tạo điều kiện cho Bộ Tài chính phát hành trái phiếu Chính phủ với mức lãi suất hợp lý, thời gian kéo dài, góp phần giữ được ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô.

Về thách thức của hệ thống ngân hàng thời gian tới, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho rằng, lạm phát là một vấn đề của toàn cầu, đến nay NHTW các nước cũng đã bắt đầu thu lại các biện pháp nới lỏng tiền tệ. Do vậy, lạm phát chính là thách thức, thời gian tới Việt Nam và NHNN sẽ phải theo dõi sát để có thể kiểm soát thông qua CSTT.

Thách thức nữa là việc hỗ trợ doanh nghiệp trong cơ cấu lại thời hạn trả nợ cũng ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của các TCTD…

DCC (lược ghi)

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.500 22.800 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.530 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.495 22.900 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.520 22.800 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
Vàng SJC 5c
61.850
62.570
Vàng nhẫn 9999
52.800
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.500
53.200