Cần phát triển tư duy kinh tế nông nghiệp

08:00 | 02/07/2021

Trong tình hình mới, ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng, cần chuyển tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Theo đó, ngành nông nghiệp cần những kế hoạch, tầm nhìn dài hơi. Trong đó, cần tập trung vào giải pháp, nhận thức những khó khăn, rào cản trong điều kiện mới.

6 tháng đầu năm, dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động đến đời sống, kinh tế, xã hội, làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu và gây ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu, tiêu thụ nông lâm thủy sản. Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, sự chung sức, vượt khó, của cộng đồng doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận của cả xã hội… Nhờ vậy, 6 tháng đầu năm 2021, toàn ngành đã đạt được những kết quả cao, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

6 tháng qua, các chỉ tiêu của ngành nông nghiệp đều đạt và vượt kế hoạch. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm đạt trên 24,23 tỷ USD, thặng dư thương mại 3,14 tỷ USD. Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản trong 6 tháng qua ước đạt 3,84%, trong đó nông nghiệp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) tăng 3,71%, lâm nghiệp tăng 3,98%, thủy sản tăng 4,25%.

can phat trien tu duy kinh te nong nghiep
Ngành nông nghiệp tập trung vào chế biến sâu các sản phẩm

Cả nước đã gieo cấy được khoảng 5,23 triệu ha lúa, tương đương cùng kỳ năm 2020, năng suất gieo trồng ước đạt 67,3 tạ/ha, tăng khoảng 2,4 tạ/ha, sản lượng ước đạt 21,83 triệu tấn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước, chế biến, sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và xuất khẩu. Nhiều địa phương thực hiện chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả với diện tích 48,1 nghìn ha sang trồng các loại rau, quả, cây công nghiệp lâu năm, nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao hơn và sang mục đích phi nông nghiệp.

Về chăn nuôi, 6 tháng đầu năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã tập trung chỉ đạo phát triển chăn nuôi hướng an toàn sinh học, gia tăng đàn lợn, gia súc ăn cỏ, ổn định đàn gia cầm và đáp ứng nguồn cung con giống cho sản xuất để bảo đảm cơ bản nhu cầu thực phẩm trong nước, đồng thời, theo dõi sát và thực hiện nghiêm các biện pháp kiểm soát, ngăn chặn dịch bệnh trên vật nuôi. Nhờ vậy, đàn gia súc, gia cầm được phục hồi và phát triển; tổng sản lượng thịt các loại ước đạt 3,16 triệu tấn, tăng 22,58% so với cùng kỳ năm 2020.

Công tác phát triển rừng tiếp tục được Bộ NN&PTNT và các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện, đẩy mạnh trồng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng và nâng cao chất lượng rừng trồng. Tính đến hết tháng 6/2021, cả nước đã chuẩn bị được gần 650 triệu cây giống các loại phục vụ trồng rừng, bằng 143% so với cùng kỳ năm 2020; diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 108.258 ha, bằng 122% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh đó, triển khai kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng rừng, chú trọng quản lý giống, trồng rừng gỗ lớn theo hướng thâm canh, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn.

Mặc dù, còn nhiều khó khăn về xuất khẩu do tác động của dịch Covid-19, giá cá tra giảm, xâm nhập mặn, nhưng thời tiết trên biển tương đối thuận lợi, giá nhiên liệu giảm, 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 4,1 triệu tấn, tăng 2,8%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện đang còn một số tồn tại, hạn chế như việc tiêu thụ nông sản tại các đô thị lớn hiện nay rất khó, nhất là ở TP. Hồ Chí Minh qua hệ thống siêu thị truyền thống. Việc đẩy mạnh tiêu thụ qua kênh thương mại điện tử này cũng cần có thời gian để làm quen. Trong khi đó, về thị trường xuất khẩu, trong các năm 2022 - 2023 chúng ta sẽ phải đối mặt với các hàng rào kỹ thuật khi các ưu đãi theo các FTA đã hết.

Trong tình hình mới, ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng, cần chuyển tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Theo đó, ngành nông nghiệp cần những kế hoạch, tầm nhìn dài hơi. Trong đó, cần tập trung vào giải pháp, nhận thức những khó khăn, rào cản trong điều kiện mới.

Nhiệm vụ của ngành nông nghiệp từ nay đến hết năm 2021 là rất lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước vẫn diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu được dự báo sẽ tiếp tục gây nên những hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai khó lường, đại dịch Covid-19 gây thiệt hại lớn cho sản xuất và làm suy giảm tăng trưởng ngành. Ngành nông nghiệp cần quán triệt phương châm chỉ đạo của Chính phủ, tuyệt đối không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trong phòng chống dịch Covid-19, tranh thủ tối đa sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự giúp đỡ, hỗ trợ của cả hệ thống chính trị và nỗ lực đổi mới, bứt phá vươn lên trên tất cả các lĩnh vực trong thực hiện cơ cấu lại và xây dựng nông thôn mới.

Đồng thời, tiếp tục đàm phán để tháo gỡ rào cản thương mại và rào cản kỹ thuật của các nước đối với hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Mở rộng thị trường nông sản sang những nền kinh tế có cơ cấu sản phẩm bổ sung với Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Liên minh châu Âu hay Trung Đông. Lựa chọn và đưa các sản phẩm phù hợp vào các thị trường tiềm năng như: Nga, Trung Đông, Châu Phi, ASEAN...

Hồng Hạnh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400