Cần rõ ràng để hợp lý hơn về thuế

10:46 | 10/07/2020

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính đề nghị xử lý vướng mắc trong việc áp thuế đối với sản phẩm thủy sản chế biến và sơ chế, nhằm thúc đẩy phát triển ngành thủy sản, giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đặc biệt là trong thời điểm các doanh nghiệp đang bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19.

Xuất khẩu nông thủy sản “chạy nước rút”

Như phản ánh của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), nhiều doanh nghiệp thủy sản tại Cà Mau đã nhận được thông báo của cơ quan thuế về việc điều chỉnh kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp từ kỳ tính thuế năm 2015 đối với hoạt động chế biến thủy sản. Trong đó, ngành thuế áp thuế suất cho hàng thủy sản là sơ chế với mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, trong khi các mặt hàng đầu ra của các doanh nghiệp này đa số là sản phẩm đã qua chế biến, nên được phép áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 15% theo khoản 5 Điều 11 và khoản 1 Điều 6 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính.

Ảnh minh họa

Hiện nay hoạt động chế biến của doanh nghiệp thủy sản gồm 3 dạng chế biến từ sản phẩm tươi sống đã qua đông lạnh đến -18 độ C; chế biến từ sản phẩm tươi sống thành sản phẩm chín; chế biến từ nguyên liệu có pha trộn gia vị phụ liệu để ra hàng giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, khi thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp chế biến thủy sản, các cơ quan ngành thuế sẽ kiểm tra thu nhập của doanh nghiệp là từ hoạt động chế biến hay hoạt động sơ chế. Với cả 3 dạng chế biến nêu trên, các cơ quan ngành thuế đều không công nhận là sản phẩm chế biến mà chỉ là sơ chế khiến tỷ lệ phải nộp thuế của các doanh nghiệp thủy sản hiện tại (bao gồm cả sản phẩm xuất khẩu, tiêu thụ nội địa hay gia công) đều là 20% - không đúng với bản chất của ngành.

Theo VASEP, các văn bản hướng dẫn của ngành tài chính chưa có cơ sở vững chắc xác định thế nào là sơ chế và thế nào là chế biến, sản phẩm như thế nào sẽ được coi là sản phẩm khác với nguyên liệu đầu vào, khái niệm “sơ chế thực phẩm” và “chế biến thực phẩm” của Bộ Tài chính cũng khác với hướng dẫn tại Luật An toàn thực phẩm 2010…

Ông Trương Đình Hòe – Tổng thư ký VASEP dẫn chứng, với con tôm sau khi được đánh bắt, phải phân loại, rửa sạch, bóc vỏ, bỏ đầu, đóng gói, cấp đông và tất cả những công đoạn này phải được công nhân làm trong môi trường lạnh để đảm bảo chất lượng. Nếu so với ngành gạo, hạt thóc sau khi gặt về được xay xát, đánh bóng, ra hạt gạo. Từ hạt thóc biến thành hạt gạo nên được xem là "chế biến", chịu thuế từ 10% - 15% tùy khu vực. Bất cập ở chỗ, từ con tôm nguyên liệu không có thay đổi tên dù trải qua nhiều công đoạn hơn từ lúa thành gạo, nên con tôm vẫn được xem là "sơ chế", phải chịu thuế suất 20% có đáng?

Nhiều đại diện doanh nghiệp cho rằng, quy định về sơ chế, chế biến tại các văn bản về thuế nêu trên không phù hợp với thực tế ngành chế biến thủy sản; không phù hợp với quy định của Luật An toàn thực phẩm và Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Do đó, công nghệ đông lạnh thực phẩm, cấp đông sản phẩm đến nhiệt độ -18 độ C không được xem là sản phẩm chế biến.

Bên cạnh đó, Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định: “Chế biến thực phẩm là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm”; “Sơ chế thực phẩm là việc xử lý sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác nhằm tạo ra thực phẩm tươi sống có thể ăn ngay hoặc tạo ra nguyên liệu thực phẩm hoặc bán thành phẩm cho khâu chế biến thực phẩm”. Theo đó, trong ngành chế biến thủy sản, cụm từ “theo phương pháp công nghiệp” được sử dụng là công nghệ đông lạnh thực phẩm, cấp đông sản phẩm đến nhiệt độ -18 độ C.

Tại Danh mục hệ thống ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg quy định về ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gồm: Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm thủy sản (1020), trong đó gồm: chế biến thủy sản đông lạnh; chế biến, bảo quản thủy sản khô; chế biến và bảo quản các sản phẩm khác từ thủy sản; sản xuất món ăn, thức ăn chế biến sẵn từ thủy sản, sản xuất thức ăn gia súc gia cầm và thủy sản.

Đại diện VASEP cho rằng, những vướng mắc nêu trên trong thời gian qua đã gây khó khăn, tổn thất cho nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản. Theo đó, VASEP kiến nghị: “Cho phép chế biến từ sản phẩm tươi sống đã qua đông lạnh đến -18 độ C, chế biến từ sản phẩm tươi sống thành sản phẩm chín, chế biến từ nguyên liệu có pha trộn gia vị phụ liệu để ra hàng GTGT được xem là hoạt động chế biến của doanh nghiệp thủy sản và được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính”.

Đồng thời, việc bị truy thu thuế trong bối cảnh dịch bệnh  vốn đã tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của ngành thủy sản sẽ càng khiến hoạt động các công ty đã khó càng khó hơn, ông Hòe nhấn mạnh.

Như Trang

Nguồn:

Tags: thủy sản

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600