Cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu

13:15 | 04/01/2019

Những năm gần đây, ngành da giày Việt Nam đã có bước phát triển khá nhanh. Hiện, chúng ta chỉ đứng sau Trung Quốc về sản lượng giày dép xuất khẩu...

Da giày trước cơ hội mới
Giày da xuất khẩu có cơ hội mới

Chúng ta đã xuất khẩu đến nhiều thị trường trên thế giới, với khoảng hơn 1 tỷ đôi các loại mỗi năm. Sản phẩm da giày của Việt Nam cũng đã xâm nhập khá thành công vào những thị trường khó tính, đòi hỏi những khắt khe về chất lượng cũng như mẫu mã như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay EU...

Các sản phẩm giày da Việt Nam ngày càng có chất lượng

Ông Phan Hải, Giám đốc Công ty Giày BQ chia sẻ, điều đáng nói, hiện giá xuất khẩu trung bình của thế giới khoảng 9,81 USD/đôi. Trong khi đó giá của Việt Nam lên tới 15 USD/đôi, cao gấp 1,6 lần so với giá trung bình của thế giới. Như vậy, chất lượng các sản phẩm giày dép của Việt Nam rõ ràng đã được nâng lên rất nhiều, được người tiêu dùng trên thế giới công nhận.

Trong năm tới, tình hình có thể sẽ vẫn khả quan hơn đối với các doanh nghiệp da giày, khi một số hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết chuẩn bị có hiệu lực.

Đặc biệt, trong đó với hiệp định CPTPP sẽ tạo cơ hội rộng mở cho các doanh nghiệp da giày đẩy mạnh xuất khẩu, khi thuế xuất hàng vào các nước trong hiệp định sẽ tự động giảm xuống. Đây là một lợi thế rất lớn của chúng ta đối với các đối thủ trong ngành da giày ở trên thế giới cũng như trong khu vực.

Theo Hiệp hội Da - Giày - Túi xách Việt Nam, hàng năm, kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngoài ra, ngành này cũng đáp ứng 50% nhu cầu tiêu dùng trong nước và giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động.

Nhưng trên thực tế, ngành công nghiệp da giày Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên gia công, nguyên phụ liệu chủ yếu phải nhập khẩu (gần 60%), nhiều nhất là da thuộc. Mặc dù đã có một số doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ sản xuất nguyên, phụ liệu cho ngành da giày như: da thuộc, vải kỹ thuật, phụ kiện làm phom, đế, chất dẻo, keo dán, hóa chất… tuy nhiên, số lượng và quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu. Do đó, để có đủ nguyên liệu sản xuất, doanh nghiệp phải chi một số tiền khá lớn để nhập khẩu nguyên, phụ liệu về sản xuất.

Bên cạnh đó, những khó khăn do chi phí nhân công ngày càng tăng, năng suất lao động còn thấp. Do xuất phát điểm thấp, nên ngành da giày Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công xuất khẩu. Bên cạnh, là những áp đảo của các doanh nghiệp da giày trong khối FDI...

Đặc biệt, một số doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu. Ở trong nước mới chỉ hỗ trợ được một số nguyên liệu đơn giản như đế giày, khoen, khuy, khóa, lót giày, thùng carton... Còn những nguyên liệu chính vẫn phải phụ thuộc rất lớn vào việc nhập khẩu từ nước ngoài, ông Hải cho biết thêm.

Để hỗ trợ các doanh nghiệp da giày, nắm bắt được thời cơ, đẩy mạnh xuất khẩu các cơ quan chức năng cần tiếp tục nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại.

Đồng thời, tập trung phát triển công nghiệp phụ trợ, bởi da giày là ngành thời trang, thay đổi liên tục, do đó cần phát triển công nghiệp phụ trợ sao cho hợp lý. Cần có những chính sách thúc đẩy hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ về công nghệ, đất đai, tín dụng...

Riêng thị trường trong nước với gần 100 triệu dân, cần khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, phân phối đầu tư xây dựng các thương hiệu thuần Việt ngay tại sân nhà nhiều tiềm năng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất da giày phát triển bền vững.

Hữu An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.825 23.055 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.855 23.055 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.839 23.059 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.850 23.065 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.840 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.860 23.040 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.890 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.950
51.650
Vàng nữ trang 9999
50.650
51.350