Đại gia bán lẻ tiến ra vùng ven

09:59 | 27/01/2021

Nhiều chuyên gia cho rằng, với đà tăng trưởng hiện tại, sẽ có nhiều trung tâm bán lẻ tiếp tục được phát triển, phân bố đa dạng hơn ở vùng ven các đô thị lớn hay các tỉnh.

Theo nhận định của các chuyên gia, vùng ven tại hai thành phố lớn nhất cả nước là TP.HCM và Hà Nội đang là điểm đến ưa thích của nhiều tập đoàn khi muốn triển khai các trung tâm mua sắm. Điều này cho thấy nhiều thay đổi về tầm nhìn của giới đầu tư, xu thế nhà ở, hành vi và thói quen mua sắm của cư dân.

Một nghiên cứu mới đây của Colliers International Việt Nam cho thấy, song hành với đà hồi phục chung của cả nền kinh tế do kiểm soát thành công dịch Covid-19, bất động sản bán lẻ trong những tháng cuối của năm 2020 đã có một diện mạo tươi mới. Với khoảng 8 dự án bất động sản bán lẻ mới cung ứng thêm cho thị trường thêm phần diện tích khoảng 50.000 m2 thì phần lớn các dự án này hiện diện tại khu vực phía Đông của TP.HCM bao gồm quận 2, quận 9, Bình Thạnh và Thủ Đức.

Thực tế, quy mô của các trung tâm thương mại vùng ven thường lớn hơn khoảng 2 - 3 lần so với trong trung tâm. Dù vậy, nếu xét về phân khúc hàng cao cấp, hiệu suất các cửa hàng vùng ven nhìn chung vẫn không cao bằng các điểm mua sắm trong khu lõi trung tâm. Dự kiến, vào năm 2021 hơn 80% nguồn cung bán lẻ mới sẽ ở các khu vực ngoài trung tâm.

dai gia ban le tien ra vung ven
Vùng ven tại TP.HCM và Hà Nội đang là điểm đến ưa thích của nhiều tập đoàn

Nguyên nhân chính nhà đầu tư chuyển hướng ra vùng ven là bởi nơi đây quỹ đất còn nhiều hơn, giá thuê phần nào rẻ hơn khu vực trung tâm. Cùng với đà tăng trưởng kinh tế, nhiều khu dân cư mới cũng mọc lên khá nhanh với tiêu chuẩn xây dựng hiện đại, thu hút tầng lớp trung lưu với sức mua mạnh chuyển đến sinh sống. Ngoài ra, nhà đầu tư muốn đón đầu xu hướng phát triển dưới tác động của các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm, tiêu biểu là metro tại TP. HCM. Theo đó, cư dân có thể chuyển đến vùng ven để sở hữu nhà hoặc căn hộ với diện tích rộng rãi hơn trong khi khu trung tâm ngày càng chật chội.

Ông David Jackson, CEO của Colliers International Việt Nam nhận định: “Khoảng cách về sự đa dạng và chất lượng dịch vụ giữa vùng ven và trung tâm sẽ được rút ngắn nhanh chóng. Giá sinh hoạt tương đối rẻ hơn, đường xá rộng rãi hơn và việc di chuyển vào trung tâm thuận lợi hơn khi metro chính thức hoạt động sẽ thu hút ngày càng nhiều người tìm kiếm nơi sinh sống tại các quận vùng ven. Đây cũng là động lực khiến nhiều doanh nghiệp bán lẻ đổ về khu vực này nhằm nhanh chóng tận dụng cơ hội”.

Ngoài ra, việc phát triển các trung tâm bán lẻ vùng ven, nhà đầu tư có ưu thế là phát triển sau, tham khảo được nhiều kinh nghiệm về chiến lược hay thiết kế. Nhất là đối với mô hình bán lẻ tích hợp nhiều tính năng như giải trí, ẩm thực, thể thao, vui chơi… sẽ là xu hướng chính trong tương lai gần, định hình việc phát triển bất động sản bán lẻ.

TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia mới đây đã có nhận định về những xung lực tác động đến thị trường bất động sản 2021 và thời gian tiếp sau. Trong đó, những thay đổi về pháp lý như Luật Doanh nghiệp với nhiều điểm tinh giản đáng kể hay xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và sản xuất trong bối cảnh Việt Nam là điểm đến nổi bật, có thể sẽ khiến bất động sản bán lẻ vùng ven phát triển mạnh mẽ hơn.

Tương tự, nhiều chuyên gia cũng cho rằng, với đà tăng trưởng hiện tại, sẽ có nhiều trung tâm bán lẻ tiếp tục được phát triển, phân bố đa dạng hơn ở vùng ven các đô thị lớn hay các tỉnh. Sức mua gia tăng theo từng năm, số người thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu cũng không ngừng lớn mạnh khiến phân khúc hàng cao cấp, xa xỉ vẫn tiếp tục phát triển sôi động. Tại TP.HCM, nhiều hãng bán lẻ hàng cao cấp vẫn tiếp tục thuê các vị trí đất “vàng” và mở rộng hoạt động của mình như Uniqlo, Giordano, ACE hay Watson... Đó cũng là những biểu hiện của một thị trường giàu sức cạnh tranh hơn, đa dạng phân khúc hơn và người tiêu dùng được hưởng lợi nhiều hơn.

Từ những diễn biến trên của thị trường bán lẻ có thể thấy, bên cạnh việc doanh nghiệp Việt Nam được hưởng nhiều lợi ích, doanh nghiệp nhiều nước cũng dễ dàng tiếp cận thị trường gần 100 triệu người của Việt Nam hơn. Các ưu đãi về thuế, chính sách cộng với sức hấp dẫn tự thân của thị trường nội địa Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FDI.

Xét về xu thế, việc các doanh nghiệp nội địa chịu sức ép lớn hơn từ doanh nghiệp ngoài cũng có mặt tích cực là tạo động lực cho doanh nghiệp trong nước đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ mới nhanh nhạy và hiệu quả hơn. Từ đó, một thị trường cạnh tranh công bằng hơn sẽ dần được tạo lập, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ. Như vậy, một năm mới phát triển sôi động đang chờ đón ngành bán lẻ và cả nền kinh tế Việt Nam ở phía trước. Trong trường hợp đại dịch Covid-19 được ngăn chặn triệt để sẽ tạo ra sự đột phá mạnh mẽ hơn nữa cho tất cả các ngành sản xuất, dịch vụ tại Việt Nam.

Minh Tuyết

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550