Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/11

07:45 | 03/11/2021

Ngày 2/11, hị trường chứng khoán tích cực khi sắc xanh chiếm ưu thế hơn ở nhóm vốn hóa lớn, giúp kéo các chỉ số lên trên mốc tham chiếu.Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 13,49 điểm (+0,94%) lên 1.452,46 điểm.

diem lai thong tin kinh te ngay 211 121146 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 1/11
diem lai thong tin kinh te ngay 211 121146 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 25-29/10

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ: Phiên 02/11, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.150 VND/USD, tăng tiếp 10 đồng so với phiên đầu tuần. Tỷ giá mua giao ngay được giữ nguyên niêm yết ở mức 22.750 VND/USD. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.795 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá.

Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên ở mức 22.749 VND/USD, giảm nhẹ 01 đồng so với phiên 01/11. Tỷ giá trên thị trường tự do giao dịch tại 23.520 VND/USD ở chiều mua vào và 23.600 VND/USD ở chiều bán ra.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 02/11, lãi suất chào bình quân LNH VND giảm 0,01 đpt ở hầu hết các kỳ hạn từ 1M trở xuống ngoại trừ giữ nguyên ở kỳ hạn 1W so với phiên trước đó, cụ thể: ON 0,66%; 1W 0,78%; 2W 0,89 và 1M 1,17%.

Lãi suất chào bình quân LNH USD đi ngang ở tất cả các kỳ hạn, giao dịch tại: ON 0,15%; 1W 0,18%; 2W 0,23%, 1M 0,31%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp không thay đổi ở kỳ hạn 5Y trong khi giảm ở các kỳ hạn còn lại, cụ thể: 3Y 0,72%; 5Y 0,82%; 7Y 1,22%; 10Y 2,15%; 15Y 2,40%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Phiên hôm qua, NHNN tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không còn khối lượng lưu hành trên kênh này.

Thị trường chứng khoán: Hôm qua, thị trường chứng khoán tích cực khi sắc xanh chiếm ưu thế hơn ở nhóm vốn hóa lớn, giúp kéo các chỉ số lên trên mốc tham chiếu.

Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 13,49 điểm (+0,94%) lên 1.452,46 điểm; HNX-Index tăng 8,57 điểm (+2,06%) lên 424,11 điểm; UPCoM-Index tăng 0,98 điểm (+0,92%) lên 106,93 điểm. Thanh khoản thị trường giảm so với phiên đầu tuần nhưng vẫn mức cao với tổng giá trị giao dịch đạt trên 35.700 tỷ VND. Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh hơn 1.145 tỷ VND trên cả ba sàn.

Bộ Tài chính đang dự thảo trình Quốc hội dự toán ngân sách năm 2022. Dự toán xây dựng trên cơ sở dự kiến GDP 6-6,5% so với năm nay, CPI tăng bình quân 4%, XK tăng 5,2%, giá dầu thô khoảng 60 USD/thùng. Bộ Tài chính dự kiến tổng thu NSNN 2022 khoảng 1,41 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với ước tính thực hiện năm 2021. Chi NSNN dự kiến khoảng 1,78 triệu tỷ đồng, tăng 4,5% so dự toán năm 2021.

Trong đó, chi ĐTPT chiếm 29,5% tổng chi NSNN (tăng 10% so với năm 2021); chi trả nợ chiếm khoảng 5,8% tổng chi, giảm 5,8%; chi thường xuyên khoảng 1,11 triệu tỷ đồng, chiếm 62,2% tổng chi NSNN, tăng hơn 5% so với dự toán năm nay.

Phần tăng chi chủ yếu bố trí hỗ trợ lực lượng phòng chống dịch COVID-19, hỗ trợ an sinh, tăng lương hưu, trợ cấp người có công... Năm 2022, Bộ Tài chính dự kiến mức bội chi là 372.900 tỷ đồng, khoảng 4% GDP (bằng tỷ lệ dự toán 2021). Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 21 - 22% tổng thu NSNN. Đến cuối năm 2022, nợ công khoảng 43 - 44% GDP.

Tin quốc tế

IHS Markit cho biết PMI lĩnh vực sản xuất tại Eurozone chính thức ở mức 58,3 điểm trong tháng 10, điều chỉnh xuống so với mức 58,5 điểm theo khảo sát sơ bộ, đồng thời thấp hơn mức 58,6 điểm của tháng 9. Tại Đức, PMI lĩnh vực sản xuất chính thức ở mức 57,8 điểm trong tháng 10, điều chỉnh xuống từ mức 58,2 điểm theo sơ bộ và thấp hơn mức 58,4 điểm của tháng 9.

Trong phiên họp hôm qua, ngày 02/11, NHTW Úc RBA dự báo GDP của nước này tăng 3,0% trong năm 2021 và sau đó sẽ tăng 5,5% trong hai năm tiếp theo. Các bất ổn đối với triển vọng kinh tế vẫn đang hiện hữu và chủ yếu phụ thuộc vào sức khỏe của cộng đồng. RBA cho biết sẽ tiếp tục duy trì LSCS ở mức 0,1%; không thay đổi so với trước.

Bên cạnh đó RBA quyết định duy trì mua TPCP ở mức 4 tỷ AUD/tuần, ít nhất cho tới giữa năm 2022. Cơ quan này cam kết sẽ không tăng LSCS cho tới khi đạt được lạm phát mục tiêu ổn định trong ngưỡng 2% tới 3%. Cuối cùng, RBA dự báo lạm phát sẽ không cao hơn mức 2,5% vào cuối năm 2023.

Tỷ giá ngày 02/11: USD = 0.864 EUR (0.25% d/d); EUR = 1.158 USD (-0.25% d/d); USD = 0.735 GBP (0.42% d/d); GBP = 1.361 USD (-0.42% d/d); GBP = 1.176 EUR (-0.18% d/d); EUR = 0.850 GBP (0.18% d/d).

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.320 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.035 23.315 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.015 23.315 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.010 23.310 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.060 23.270 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.060 23.280 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.032 23.600 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.031 23.322 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.050 23.290 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.090 23.280 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
69.000
69.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
69.000
69.900
Vàng SJC 5c
69.000
69.920
Vàng nhẫn 9999
54.350
55.300
Vàng nữ trang 9999
54.100
54.900