Đón đầu cơ hội cho vay mới

14:04 | 17/02/2022

Lãi suất huy động tại một số ngân hàng có xu hướng tăng nhẹ. Bên cạnh sức ép lạm phát còn bởi các ngân hàng đang đẩy mạnh huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng được dự báo sẽ phục hồi mạnh mẽ cùng đà phát triển của nền kinh tế khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, cả nước đã chuyển sang giai đoạn thích ứng linh hoạt, an toàn.

Đơn cử, VPBank tăng 0,3-0,7% đối với kỳ hạn tiền gửi 6 và 9 tháng, kỳ hạn 12 tháng tăng thêm 0,7-0,8%, nếu khách hàng gửi tiết kiệm online sẽ có lãi suất cao hơn gửi tại quầy từ 0,2-0,3%; ngân hàng này có sản phẩm tiền gửi Prime Savings lãi suất nhân đôi tháng đầu tiên áp dụng cho khách hàng gửi tiền online kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. NamA Bank đưa lãi suất tiền gửi kỳ hạn 16 - 36 tháng lên mức 7,4% đối với hình thức tiết kiệm online ngay từ đầu năm 2022. Techcombank tăng lãi suất thêm 0,4-0,5% đối với hầu hết các kỳ hạn.

Không chỉ tăng lãi suất huy động, mà các ngân hàng còn triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, tặng quà để hấp dẫn người gửi tiền, như Ngân hàng Bản Việt đưa ra 1 vạn món quà là đồ gia dụng tặng cho người gửi tiền từ 100 triệu đồng kỳ hạn đối với kỳ hạn 6 tháng trở lên…

Tuy nhiên theo quan sát của phóng viên, lãi suất huy động của khối NHTM có vốn nhà nước chi phối vẫn giữ ổn định. Một chuyên gia ngân hàng cho biết, 4 NHTM Nhà nước vốn chiếm hơn 50% thị phần huy động vốn và tín dụng toàn hệ thống vẫn duy trì lãi suất huy động ở mức thấp, cho thấy lãi suất cho vay sẽ có cơ hội giữ ổn định trong thời gian tới.

don dau co hoi cho vay moi
Ảnh minh họa

Lãnh đạo các ngân hàng cổ phần cũng cho biết, việc tăng lãi suất huy động của các nhà băng chủ yếu để cơ cấu nguồn vốn. Còn trong bối cảnh hiện nay, mặc dù áp lực lạm phát đang ngày một lớn, song các ngân hàng vẫn cố gắng duy trì ổn định lãi suất cho vay. Ông Nguyễn Thành Nhân - Giám đốc khối khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng Bản Việt cho biết, trong năm 2022 ngân hàng này dành ra khoảng 9.000 tỷ đồng cho vay cá nhân và DNNVV với mức lãi suất ưu đãi khoảng 2% so với các khoản vay thông thường.

Ông Nguyễn Thế Minh - Phó Tổng giám đốc MSB cũng cho biết, năm nay Chính phủ sẽ triển khai các gói hỗ trợ kích thích kinh tế phát triển tập trung vào những lĩnh vực sản xuất kinh doanh và xuất khẩu, đầu tư xây dựng cơ bản, tiêu dùng… Theo đó, MSB cũng đã có những chuẩn bị sẵn sàng để hỗ trợ các nhóm DNNVV về chính sách, sản phẩm, các gói tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp vay không cần tài sản đảm bảo, hoặc cho vay bảo đảm bằng các khoản phải thu hiện hữu, tương lai; Giảm chi phí, thủ tục hồ sơ, cung cấp các giải pháp số hóa cho doanh nghiệp, cung cấp giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho doanh nghiệp… MSB đang cấp hạn mức tín chấp lên tới 200 tỷ đồng, trong đó cho vay 100 tỷ đồng trên cơ sở quản lý hợp đồng đầu ra; Cấp tín dụng có tài sản đảm bảo với hạn mức lên tới 2,8 lần giá trị định giá tài sản đảm bảo.

Những doanh nghiệp siêu nhỏ được MSB cấp hạn mức tín chấp tới 500 triệu đồng; Tài trợ cho các nhà nhập khẩu 100% giá trị LC và tài trợ 80% giá trị hợp đồng đầu ra. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tài trợ xuất khẩu trước giao hàng lên tới 90% giá trị hợp đồng, LC xuất khẩu; chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu lên tới 98% giá trị bộ chứng từ xuất khẩu.

Không chỉ các ngân hàng nội, các ngân hàng ngoại cũng triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi để đón đầu xu hướng. Chẳng hạn HSBC Việt Nam đã ký kết Ý định thư về việc đánh giá và cung cấp các giải pháp tài chính bền vững cho CTCP Đầu tư xây dựng Trung Nam (Trungnam Group) về năng lượng tái tạo. Ông Nguyễn Tâm Thịnh - Chủ tịch HĐQT Trungnam Group, cho biết, việc hợp tác này sẽ tạo ra các giải pháp tài chính bền vững, giúp cho doanh nghiệp phát triển các dự án chiến lược trong thời gian tới, góp phần vào tiến trình hoàn thành mục tiêu đến năm 2025. Trungnam Group sẽ nâng mức công suất sở hữu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo lên thành 3,8GW và 1,5GW điện khí LNG. Đồng thời hiện thực hóa cam kết của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu COP26.

Tâm lý hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng đang trở lại với khí thế mới, nhất là đầu tàu kinh tế TP.HCM trong năm qua bị ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhưng từ quý IV/2021 các ngành công nghệ được mở dần dần đã tạo động lực cho tín dụng ngân hàng tăng trưởng. Ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, dư nợ tín dụng những tháng vừa qua liên tục tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước. Tháng 1/2022 ước tín dụng trên địa bàn tăng 1% so với tháng 12/2021 và tăng 11,6% so với cùng kỳ.

Trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng, ông Nguyễn Đức Lệnh cho rằng, mức tăng trưởng tín dụng này là rất ấn tượng do tháng 1 năm nay rơi vào cận Tết cổ truyền theo quy luật thường niên tín dụng tăng thấp. Song, năm nay hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại bình thường sau khi thành phố đã kiểm soát được dịch bệnh, một số lĩnh vực ngành nghề đã khởi động ngay sau bình thường mới.

Bên cạnh các gói tín dụng ưu đãi đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, các ngân hàng còn tích cực triển khai các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp thông qua các hoạt động cơ cấu lại nợ, miễn giảm phí, lãi suất và giữ nguyên nhóm nợ. Điều đó đã có tác động quan trọng trong việc duy trì và tạo dòng tiền cho doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, nhờ đó doanh nghiệp phục hồi nhanh hoặc trở lại trạng thái sản xuất bình thường nhanh chóng.

Hải Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650