sn-bac
Chỉ số kinh tế:
Ngày 28/8/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.610 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.380/26.840 đồng/USD. Tháng 7/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; bảy tháng năm 2026 tăng 11,4%, là mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua, tăng ở cả 34 địa phương; số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Bảy tháng năm 2026 có 187,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5%; 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4%; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách Nhà nước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0%; chi ngân sách Nhà nước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1%, trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%; nhập siêu 20,52 tỷ USD; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 104,7 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 138,6 tỷ USD. CPI bảy tháng tăng 4,39%; lạm phát cơ bản tăng 4,19%; vận tải hành khách tăng 18,0%; vận tải hàng hóa tăng 14,9%; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Dữ liệu ngân hàng sẽ trở thành công cụ nâng cao hiệu quả quản lý thuế

Quỳnh Trang
Quỳnh Trang  - 
Từ ngày 1/7/2026, phạm vi thông tin ngân hàng cung cấp cho cơ quan thuế được mở rộng, bao gồm số dư tài khoản, dữ liệu giao dịch và các giao dịch bất thường. Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, mục tiêu của chính sách không phải là gia tăng kiểm tra đại trà mà hướng tới nâng cao năng lực quản trị rủi ro, chống thất thu thuế, đồng thời bảo đảm quyền riêng tư và an toàn dữ liệu của người dân.
aa
Tiêu chí xác định người nộp thuế rủi ro cao về hóa đơn điện tử Khơi thông nguồn vốn từ khung pháp lý mới về cho thuê tài chính NHNN triển khai Kế hoạch hành động về trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế

Thưa ông, từ ngày 1/7/2026, phạm vi thông tin mà các ngân hàng phải cung cấp cho cơ quan thuế đã được mở rộng đáng kể, bao gồm cả số dư tài khoản, dữ liệu giao dịch và các giao dịch bất thường. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của chính sách này đối với công tác quản lý thuế, chống thất thu ngân sách và phòng, chống gian lận thuế trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh?

Có thể nhìn nhận, đây là một bước tiếp theo trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế của Việt Nam khi nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh sang môi trường số. Nếu trước đây công tác quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ kê khai thì hiện nay, cùng với sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt, thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước.

Dữ liệu ngân hàng sẽ trở thành công cụ nâng cao hiệu quả quản lý thuế
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, ảnh: ST

Ở góc độ quản lý, việc mở rộng cơ chế chia sẻ thông tin giữa hệ thống ngân hàng và cơ quan thuế sẽ góp phần tăng cường năng lực phân tích, đối chiếu và quản trị rủi ro, từ đó hỗ trợ phát hiện những trường hợp có dấu hiệu kê khai chưa đầy đủ hoặc lợi dụng môi trường số để thực hiện hành vi gian lận thuế. Điều này không chỉ góp phần hạn chế thất thu ngân sách mà còn hướng tới mục tiêu quan trọng hơn là bảo đảm sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế.

Trong nền kinh tế thị trường, sự công bằng không chỉ được thể hiện ở chính sách thuế mà còn ở việc mọi chủ thể cùng thực hiện nghĩa vụ theo những nguyên tắc như nhau. Khi các doanh nghiệp và cá nhân tuân thủ đúng quy định không còn phải cạnh tranh với những trường hợp cố tình che giấu doanh thu hoặc né tránh nghĩa vụ thuế, môi trường kinh doanh sẽ trở nên minh bạch và lành mạnh hơn.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm không phải là cơ quan quản lý có thêm bao nhiêu dữ liệu, mà là dữ liệu được sử dụng như thế nào. Trong quản trị hiện đại, dữ liệu không phải để mở rộng kiểm tra trên diện rộng, mà để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro, giúp cơ quan quản lý tập trung đúng đối tượng, đúng thời điểm và đúng mục tiêu. Khi đó, hiệu quả quản lý được nâng lên nhưng chi phí tuân thủ của phần lớn người dân và doanh nghiệp lại có điều kiện giảm xuống.

Nhiều người dân bày tỏ băn khoăn về quyền riêng tư và tính bảo mật thông tin tài khoản khi quy định mới có hiệu lực. Theo ông, cần hiểu đúng quy định này như thế nào để tránh tâm lý lo ngại rằng mọi thông tin tài khoản của người dân đều được chuyển tự động cho cơ quan thuế? Đồng thời, đâu là những cơ chế pháp lý bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân?

Theo tôi, trước hết cần nhìn nhận rằng những băn khoăn của người dân là hoàn toàn tự nhiên và đáng được lắng nghe. Trong đời sống hiện nay, thông tin tài khoản ngân hàng là một trong những dữ liệu cá nhân có tính nhạy cảm cao. Vì vậy, khi xuất hiện quy định mới liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, việc nhiều người quan tâm đến quyền riêng tư, tính bảo mật và an toàn thông tin không nên được xem là phản ứng tiêu cực, mà là mong muốn chính đáng về một môi trường số an toàn và đáng tin cậy.

Chính vì vậy, cùng với việc triển khai chính sách, điều rất quan trọng là truyền thông đầy đủ để người dân hiểu rõ phạm vi, mục đích và nguyên tắc sử dụng dữ liệu.

Điều người dân thực sự quan tâm không chỉ là cơ quan quản lý có thể tiếp cận những thông tin nào, mà còn là dữ liệu đó được tiếp cận trong trường hợp nào, bởi chủ thể nào, sử dụng vào mục đích gì và được bảo vệ bằng những cơ chế nào. Khi những vấn đề này được quy định minh bạch và thực thi nghiêm túc, niềm tin xã hội sẽ được củng cố.

Theo tôi, để bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân, cần kiên định thực hiện một số nguyên tắc. Trước hết là nguyên tắc đúng mục đích, nghĩa là dữ liệu chỉ được khai thác để phục vụ quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Tiếp đó là nguyên tắc đúng thẩm quyền, chỉ những cá nhân, đơn vị được giao nhiệm vụ mới được tiếp cận dữ liệu trong phạm vi công việc. Đồng thời, toàn bộ quá trình khai thác cần được phân quyền, lưu vết và kiểm soát để bảo đảm khả năng giám sát, truy cứu trách nhiệm nếu xảy ra lạm dụng hoặc lộ lọt thông tin.

Thực tiễn quốc tế cũng cho thấy, khi mở rộng chia sẻ dữ liệu tài chính, yếu tố quyết định thành công không chỉ là công nghệ mà còn là niềm tin thể chế. Người dân sẽ sẵn sàng hợp tác hơn khi họ cảm nhận rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình luôn được pháp luật bảo vệ, dữ liệu được quản lý an toàn và mọi hoạt động khai thác đều có trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Ở góc độ chuyên gia, ông cho rằng các ngân hàng và cơ quan thuế cần chuẩn bị những điều kiện gì về hạ tầng công nghệ, quy trình phối hợp và quản trị dữ liệu để việc chia sẻ thông tin vừa hiệu quả, chính xác, vừa bảo đảm an toàn thông tin, không làm phát sinh chi phí tuân thủ quá lớn đối với hệ thống tài chính - ngân hàng?

Để chính sách đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, theo tôi cần tiếp cận theo tinh thần "hạ tầng đi trước, quản trị theo sau và niềm tin đồng hành". Đây không chỉ là câu chuyện kết nối dữ liệu giữa hai ngành mà là xây dựng năng lực quản trị dữ liệu quốc gia trong dài hạn.

Trước hết, cần tiếp tục chuẩn hóa hạ tầng công nghệ và tiêu chuẩn dữ liệu giữa cơ quan thuế, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, bảo đảm dữ liệu được kết nối đồng bộ, chính xác và có thể đối chiếu tự động. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả xử lý mà còn hạn chế tối đa sai sót do thao tác thủ công.

Bên cạnh đó, cần chuyển mạnh từ tư duy thu thập dữ liệu sang tư duy quản trị rủi ro. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu nên được sử dụng để hỗ trợ nhận diện các dấu hiệu bất thường, từ đó giúp cơ quan quản lý lựa chọn đúng đối tượng cần kiểm tra, thay vì mở rộng phạm vi kiểm tra không cần thiết. Đây cũng là cách tiếp cận giúp giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và chính hệ thống ngân hàng.

Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng hệ thống bảo vệ dữ liệu theo các chuẩn mực cao về an toàn thông tin, từ mã hóa dữ liệu, xác thực nhiều lớp, phân quyền truy cập đến giám sát, kiểm toán định kỳ và phương án ứng phó với sự cố an ninh mạng. Dữ liệu càng có giá trị thì càng phải được bảo vệ nghiêm ngặt.

Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng, thống nhất về quy trình chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm của từng cơ quan, phương thức xử lý khi phát sinh sai lệch cũng như cơ chế phản hồi, giải quyết kiến nghị của người dân và doanh nghiệp. Sau một thời gian triển khai, cũng nên tổ chức đánh giá độc lập về hiệu quả chính sách trên các khía cạnh như mức độ giảm thất thu, chi phí tuân thủ, hiệu quả phối hợp và mức độ hài lòng của người dân. Việc thường xuyên lắng nghe phản hồi từ thực tiễn sẽ giúp chính sách tiếp tục được hoàn thiện theo hướng cân bằng và hiệu quả hơn.

Suy cho cùng, thành công của một chính sách không chỉ được đo bằng lượng dữ liệu được chia sẻ hay số vụ việc được phát hiện, mà còn bằng mức độ đồng thuận của xã hội và niềm tin mà chính sách tạo dựng. Một nền quản trị hiện đại cần hướng tới mục tiêu quản lý hiệu quả nhưng không tạo thêm gánh nặng không cần thiết; tăng cường minh bạch nhưng luôn tôn trọng quyền riêng tư; khai thác giá trị của dữ liệu nhưng phải đặt trách nhiệm bảo vệ dữ liệu lên hàng đầu. Khi hài hòa được những yêu cầu đó, chính sách sẽ không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế mà còn tạo nền tảng vững chắc cho quá trình xây dựng Nhà nước số, kinh tế số và một môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn, bền vững.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Trang

Tin liên quan

Tin khác

Thắp lửa cho khát vọng số ngành Ngân hàng

Thắp lửa cho khát vọng số ngành Ngân hàng

Chuyển đổi số đã và đang làm thay đổi cách người dân và doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Thanh toán bằng mã QR, mở tài khoản bằng định danh điện tử, chuyển tiền trên điện thoại hay nhận các khoản chi trả qua tài khoản đã trở thành những hoạt động quen thuộc trong đời sống.
Agribank Chi nhánh Kiên Giang II tham gia chuyển đổi số cùng Ngành ngân hàng

Agribank Chi nhánh Kiên Giang II tham gia chuyển đổi số cùng Ngành ngân hàng

Chuyển đổi số đang tạo ra sự thay đổi căn bản trong hoạt động của ngành ngân hàng, từ mô hình cung ứng dịch vụ đến phương thức quản trị và trải nghiệm khách hàng. Đối với Agribank Chi nhánh Kiên Giang II, quá trình này được triển khai trong điều kiện địa bàn rộng, chủ yếu là khu vực nông nghiệp, nông thôn của tỉnh An Giang, nơi trình độ tiếp cận công nghệ giữa các nhóm khách hàng còn có sự khác biệt. Chính vì vậy, chuyển đổi số không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn là quá trình thay đổi thói quen sử dụng dịch vụ tài chính của người dân.
Hạ tầng số: Mạch kết nối của ngân hàng hiện đại

Hạ tầng số: Mạch kết nối của ngân hàng hiện đại

Trong dòng chảy bùng nổ của kỷ nguyên 4.0, khi nói đến chuyển đổi số ngành Ngân hàng, chúng ta thường dễ bị thu hút bởi những giao diện ứng dụng di động bắt mắt, các dịch vụ thanh toán một chạm tức thì hay những mô hình ngân hàng không chi nhánh. Tuy nhiên, đằng sau sự tiện lợi và liền mạch mà hàng triệu người dân, doanh nghiệp thụ hưởng mỗi ngày là một "động cơ" vận hành khổng lồ, hoạt động không ngừng nghỉ 24/7- Hạ tầng số. Xây dựng một hạ tầng số vững chắc, linh hoạt và an toàn tuyệt đối không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà chính là sứ mệnh sống còn để bảo đảm sự ổn định và thông suốt cho huyết mạch tài chính quốc gia.
Nhịp đập số dưới mái chợ  truyền thống

Nhịp đập số dưới mái chợ truyền thống

Nằm nép mình bên dòng sông Hàn thơ mộng, chợ Hàn từ lâu đã trở thành một biểu tượng văn hóa, lịch sử không thể tách rời của thành phố Đà Nẵng. Đúng như danh xưng “Chợ quốc tế”, bước chân vào không gian bên trong chợ, người ta dễ choáng ngợp bởi sự pha trộn âm thanh vô cùng độc đáo. Đó là tiếng mời chào đon đả bằng tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Trung của những tiểu thương nơi đây cùng những đoàn du khách đa quốc tịch đến từ khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt, du khách Hàn Quốc luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Chợ Hàn đã trở thành điểm đến không thể thiếu trong các hành trình tour của khách quốc tế khi đến thành phố biển miền Trung này.
Công nghệ tài chính thúc đẩy nền kinh tế số

Công nghệ tài chính thúc đẩy nền kinh tế số

Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), ngân hàng mở, tài sản số và các phương thức thanh toán mới đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động tài chính - ngân hàng. Với gần 80% giao dịch tài chính được thực hiện qua nền tảng số, Việt Nam đang đứng trước cơ hội tận dụng công nghệ tài chính để nâng cao hiệu quả hệ thống, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và tạo thêm động lực cho nền kinh tế số.
Hoàn thiện hành lang pháp lý: “Đòn bẩy” cho ngân hàng thông minh bứt phá trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Hoàn thiện hành lang pháp lý: “Đòn bẩy” cho ngân hàng thông minh bứt phá trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Chuyển đổi số đang trở thành động lực trung tâm thúc đẩy mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Ngành Ngân hàng, với vai trò huyết mạch của nền kinh tế, đã và đang tiên phong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công cuộc đổi mới này. Bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước, định hướng Chiến lược chuyển đổi số ngân hàng, NHNN Việt Nam tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, trong đó có chủ trương tạo đà bứt phá mạnh mẽ cho mô hình ngân hàng thông minh, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.
Ngân hàng số… về làng

Ngân hàng số… về làng

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đang tạo nên những chuyển biến rõ nét trong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nếu trước đây dịch vụ tài chính hiện đại còn khá xa lạ với người dân vùng quê, thì nay chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã đưa các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, tín dụng đến gần hơn với từng hộ gia đình. Từ nhận lương hưu, trợ cấp an sinh xã hội qua tài khoản đến thanh toán bằng mã QR tại chợ quê, ngân hàng số đang từng bước thay đổi cách người dân quản lý tài chính và tiếp cận các dịch vụ hiện đại.
FPT đồng hành cùng ngành Ngân hàng dịch chuyển từ mô hình Digital Banking sang AI-First Banking

FPT đồng hành cùng ngành Ngân hàng dịch chuyển từ mô hình Digital Banking sang AI-First Banking

Ngày 18/8, Sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI” chính thức diễn ra tại Hà Nội. Tại sự kiện, Tập đoàn FPT giới thiệu hệ sinh thái Made by FPT đồng hành cùng ngành dịch chuyển từ mô hình Digital Banking sang AI-First Banking.
VIB: Cá nhân hóa ở quy mô lớn trên một nền tảng an toàn

VIB: Cá nhân hóa ở quy mô lớn trên một nền tảng an toàn

Tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, VIB tiếp tục khẳng định một năng lực đang ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong ngân hàng số: cá nhân hóa trải nghiệm cho từng khách hàng, nhưng ở quy mô triệu người dùng và trên một nền tảng vận hành an toàn. Từ những sản phẩm có khả năng thích ứng ngày càng sâu với nhu cầu từng người dùng đến gần 680 triệu giao dịch số mỗi năm, VIB đang chuyển hóa những bước tiến về công nghệ, dữ liệu và AI thành những giá trị cụ thể mà khách hàng có thể trực tiếp cảm nhận.
Tín dụng trên kênh số, hơn 40.000 tỷ đồng được giải ngân qua MISA Lending

Tín dụng trên kênh số, hơn 40.000 tỷ đồng được giải ngân qua MISA Lending

MISA Lending đã kết nối 16 ngân hàng, phục vụ khoảng 400.000 doanh nghiệp và hộ kinh doanh, với tổng hạn mức được cấp 23.860 tỷ đồng và tổng giải ngân 40.090 tỷ đồng. Quy trình vay vốn được rút ngắn với 5 phút hoàn thiện hồ sơ, 1 ngày phê duyệt và không cần tài sản bảo đảm. Tỷ lệ vay vốn thành công đạt 36,2%, cao gấp 10 lần so với mô hình truyền thống.