Fed khẳng định quyết tâm chống lạm phát

08:17 | 29/08/2022

Phát biểu tại Hội nghị thường niên của các nhà ngân hàng trung ương tại Jackson Hole, Wyoming cuối tuần trước, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell đã thể hiện một quyết tâm mạnh mẽ trong việc kiểm soát lạm phát, cảnh báo rằng Fed có thể sẽ tiếp tục tăng lãi suất theo cách sẽ gây ra "một số đau đớn" cho nền kinh tế Mỹ.

fed khang dinh quyet tam chong lam phat VND vững vàng trước các đợt tăng lãi suất của Fed

Chống lạm phát là ưu tiên hàng đầu

Theo đó ông Powell khẳng định, Fed sẽ “sử dụng các công cụ của chúng tôi một cách mạnh mẽ” để chế ngự lạm phát vẫn đang ở gần mức cao nhất trong hơn 40 năm. Ngay cả khi đã thực hiện tăng lãi suất 4 lần liên tiếp với mức tăng tổng cộng là 2,25 điểm phần trăm, song Chủ tịch Fed vẫn cho rằng, đây không phải là "điểm dừng hoặc tạm dừng" mặc dù lãi suất chuẩn có thể nằm xung quanh một khu vực được coi là không kích thích hoặc hạn chế tăng trưởng (lãi suất trung hòa).

“Mặc dù việc lãi suất cao hơn, tăng trưởng chậm hơn và điều kiện thị trường lao động yếu hơn sẽ kéo giảm lạm phát, song chúng cũng sẽ mang lại một số đau đớn cho các hộ gia đình và doanh nghiệp”, ông nói trong bài phát biểu của mình. "Đây là những chi phí đáng tiếc của việc giảm lạm phát. Nhưng thất bại trong việc khôi phục sự ổn định giá cả sẽ đồng nghĩa với nỗi đau lớn hơn nhiều", ông nhấn mạnh.

fed khang dinh quyet tam chong lam phat
Chủ tịch Fed Jerome Powell

Phát biểu của ông Jerome Powell được đưa ra trong bối cảnh có những dấu hiệu cho thấy lạm phát có thể đã đạt đỉnh, nhưng chưa có dấu hiệu giảm rõ rệt. Theo đó hai công cụ đo lường lạm phát phổ biến nhất là chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá tiêu dùng cá nhân đều cho thấy giá cả chỉ giảm nhẹ trong tháng 7, phần lớn là do chi phí năng lượng giảm mạnh.

Trong khi đó các lĩnh vực khác của nền kinh tế đang chậm lại. Nhà ở nói riêng đang giảm giá nhanh chóng và các nhà kinh tế dự báo, tăng trưởng việc làm mạnh mẽ trong 1,5 năm qua có thể sẽ hạ nhiệt. Về tổng thể thì kinh tế Mỹ đã trải qua hai quý suy giảm liên tiếp, điều mà không ít nhà kinh tế xem là đã rơi vào suy thoái về mặt kỹ thuật.

Tuy nhiên, phát biểu của Chủ tịch Fed cho thấy, trọng tâm hiện tại của cơ quan này là kéo giảm lạm phát xuống gần với mục tiêu dài hạn là 2%. "Chúng tôi đang chuyển quan điểm chính sách của mình một cách có chủ đích đến mức đủ hạn chế để đưa lạm phát trở lại 2%", Chủ tịch Fed nói và cũng nhấn mạnh: "Ổn định giá cả là trách nhiệm của Fed và đóng vai trò là nền tảng của nền kinh tế của chúng tôi... Nếu không có sự ổn định về giá cả, nền kinh tế không hoạt động cho bất kỳ ai".

Theo Jeffrey Roach - Nhà kinh tế trưởng tại LPL Financial: “Về bản chất, Powell đang nói rõ rằng ngay bây giờ, chống lại lạm phát quan trọng hơn là hỗ trợ tăng trưởng”.

Tránh lặp lại sai lầm

Đáng chú ý Chủ tịch Fed đã phát đi tín hiệu là sẽ không sớm đảo chiều chính sách sang nới lỏng. “Việc khôi phục ổn định giá cả có thể sẽ đòi hỏi phải duy trì lập trường chính sách hạn chế trong một thời gian. Các bằng chứng lịch sử đang chống lại việc nới lỏng chính sách quá sớm ”, ông nói.

Cụ thể, Powell cho biết lạm phát của 40 năm trước cung cấp cho Fed ba bài học: Các ngân hàng trung ương như Fed chịu trách nhiệm quản lý lạm phát và kỳ vọng lạm phát là rất quan trọng. “Chúng ta phải duy trì nó cho đến khi hoàn thành công việc”, ông nói và lưu ý rằng việc Fed không hành động mạnh mẽ vào những năm 1970 đã gây ra tình trạng kỳ vọng lạm phát cao kéo dài, dẫn đến việc tăng lãi suất hà khắc vào đầu những năm 1980. Hệ quả là Chủ tịch Fed thời kỳ đó là ông Paul Volcker đã kéo nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái.

Với tình hình hiện nay, mặc dù đã nhiều lần tuyên bố rằng ông không nghĩ suy thoái là một kết quả không thể tránh khỏi đối với nền kinh tế Mỹ, song Chủ tịch Fed cũng lưu ý, việc quản lý kỳ vọng lạm phát là rất quan trọng nếu Fed muốn tránh một kết quả giống như ông Paul Volcker.

“Lạm phát là điều mà mọi người đang chú ý ngay bây giờ, điều này làm nổi bật một rủi ro cụ thể ngày nay: Tình trạng lạm phát cao hiện nay tiếp tục diễn ra càng lâu, thì khả năng kỳ vọng về lạm phát cao hơn sẽ càng lớn”, ông nói và nhấn mạnh: "Mục đích của chúng tôi là tránh kết quả đó bằng cách hành động với quyết tâm ngay bây giờ".

Hiện các thị trường đang chờ đợi cuộc họp tiếp theo của Fed vào tháng 9 để xem liệu cơ quan này có quyết định tăng lãi suất thêm 75 điểm lần thứ ba hay không cho dù Powell cho biết quyết định "sẽ phụ thuộc vào các dữ liệu sắp tới" và cho rằng "khi lập trường của chính sách tiền tệ được thắt chặt hơn nữa, nó có khả năng trở nên thích hợp để làm chậm tốc độ tăng".

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450