Giá nguyên liệu thủy sản ổn định, doanh nghiệp nỗ lực tăng giá trị hàng xuất khẩu
![]() |
| Đây chính là thời điểm để doanh nghiệp dành nguồn lực cho những khoản đầu tư dài hạn |
Câu trả lời ngày càng rõ là ngành thủy sản không thể chỉ dựa vào sản lượng mà phải tăng giá trị. Những con số xuất khẩu tháng 8 cho thấy dư địa này vẫn còn rất lớn.
Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 8/2026 đạt khoảng 1,08 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch 8 tháng lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2025. Thủy sản cũng nằm trong nhóm có mức tăng đáng chú ý của xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, trong bối cảnh tổng kim ngạch nhóm hàng này 8 tháng đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7%.
Cần nhìn nhận, tốc độ tăng sản lượng đang thấp hơn đáng kể tốc độ tăng giá trị xuất khẩu. Trong 8 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 6,95 triệu tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ; riêng sản lượng tôm đạt hơn 1,18 triệu tấn, tăng 7,4%.
Khoảng cách giữa tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng kim ngạch cho thấy ngành đã có những bước tiến nhất định trong việc cải thiện giá trị hàng hóa. Nhưng đây cũng chính là lúc cần đặt mục tiêu cao hơn đó là cùng một lượng nguyên liệu, phải tạo ra nhiều giá trị hơn.
Cụ thể, tại một số địa phương, giá tôm sú những ngày đầu tháng 9 tiếp tục duy trì ổn định. Tôm sú cỡ 50 con/kg được thu mua ở mức 220.000 đồng/kg; cỡ 40 con/kg ở mức 250.000 đồng/kg và cỡ 30 con/kg đạt khoảng 300.000 đồng/kg. Trong khi đó, tôm thẻ cỡ 100 con/kg tăng 3.000 đồng/kg, lên 90.000 đồng/kg.
Ở nhóm thủy sản khai thác, giá cá ngừ đại dương cỡ khoảng 30 kg/con giữ mức 103.000 đồng/kg. Nhìn trên tổng thể, thị trường nguyên liệu không có biến động quá lớn. Đây là điều kiện để doanh nghiệp tính toán kế hoạch sản xuất ổn định hơn, thay vì liên tục ứng phó với những cú sốc về giá đầu vào. Nhưng ổn định giá nguyên liệu mới chỉ là điều kiện cần.
Theo ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta (FIMEX Việt Nam), trong nhiều năm, sản lượng vẫn là một trong những động lực quan trọng của xuất khẩu thủy sản. Nguồn cung tăng giúp doanh nghiệp có thêm nguyên liệu, mở rộng quy mô chế biến và đáp ứng các đơn hàng lớn. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào sản lượng ngày càng bộc lộ giới hạn.
Nguồn lợi tự nhiên không phải vô hạn. Diện tích nuôi, nguồn nước, chi phí thức ăn, con giống, lao động và năng lượng đều có giới hạn. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường. Vì thế, bài toán không còn đơn giản là xuất khẩu thêm bao nhiêu tấn tôm, cá. Quan trọng hơn là mỗi tấn hàng có thể tạo ra bao nhiêu USD.
Cùng một lượng tôm nguyên liệu, nếu chỉ sơ chế và xuất khẩu dưới dạng sản phẩm phổ thông thì giá trị tạo ra sẽ khác rất xa so với việc phân loại, chế biến sâu, phát triển sản phẩm tiện lợi, sản phẩm cao cấp hoặc sản phẩm được thiết kế riêng cho từng thị trường. Đây chính là khoảng trống mà doanh nghiệp thủy sản cần tập trung khai thác.
Thị trường quốc tế đang thay đổi nhanh. Người tiêu dùng không chỉ quan tâm sản phẩm có nguồn gốc từ đâu mà còn quan tâm sản phẩm được sản xuất như thế nào, có tiện lợi hay không, có đáp ứng các yêu cầu về môi trường hay không. Điều này đang tạo ra dư địa lớn cho chế biến sâu.
Với tôm, thay vì chỉ xuất khẩu tôm đông lạnh nguyên con hoặc sơ chế, doanh nghiệp có thể phát triển các sản phẩm chế biến, đóng gói theo khẩu phần, thực phẩm tiện lợi hoặc các dòng sản phẩm có thương hiệu. Với cá ngừ, giá trị không chỉ nằm ở con cá được khai thác mà còn ở khả năng bảo quản ngay sau đánh bắt, phân loại, chế biến và đưa vào những phân khúc có giá trị cao hơn. Nói cách khác, lợi thế của ngành thủy sản trong tương lai không chỉ nằm ở việc có nhiều nguyên liệu mà nằm ở khả năng biến nguyên liệu thành sản phẩm mà thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn, ông Hồ Quốc Lực chia sẻ thêm.
Đây cũng là cách giảm sự phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu. Khi biên lợi nhuận được tạo ra nhiều hơn ở khâu chế biến và thương mại, doanh nghiệp sẽ ít bị phụ thuộc vào chênh lệch giá nguyên liệu đầu vào - đầu ra.
Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, muốn tăng giá trị xuất khẩu, không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp đầu tư nhà máy. Giá trị của sản phẩm xuất khẩu được quyết định từ rất sớm, ngay tại vùng nuôi và khâu khai thác. Một lô nguyên liệu có chất lượng không đồng đều sẽ làm tăng chi phí phân loại, chế biến và kiểm soát. Ngược lại, vùng nguyên liệu được tổ chức tốt, quy trình nuôi được kiểm soát, truy xuất được nguồn gốc sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro và chủ động hơn trong chế biến.
Do đó, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người nuôi cần chuyển từ mua - bán đơn thuần sang liên kết chuỗi. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa quy trình và xây dựng kế hoạch thu mua phù hợp với nhu cầu từng thị trường.
Khi đó, người nuôi không chỉ bán nguyên liệu; họ cung cấp nguyên liệu đạt chuẩn. Doanh nghiệp cũng không đơn thuần mua nguyên liệu mà chủ động được nguồn hàng cho những đơn hàng có giá trị cao.
Ba thị trường lớn gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản hiện chiếm phần đáng kể trong cơ cấu tiêu thụ thủy sản Việt Nam, với tỷ trọng lần lượt khoảng 24%, 15,6% và 13,7% trong số liệu 7 tháng được công bố. Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 37,1% so với cùng kỳ, trong khi Hoa Kỳ tăng 2,5% và Nhật Bản tăng 2,3%.
Những diễn biến này cho thấy thị trường vẫn còn dư địa, nhưng cơ hội không tự động chuyển thành giá trị nếu doanh nghiệp chỉ tiếp tục bán sản phẩm theo cách cũ. Khi giá nguyên liệu tương đối ổn định, đây chính là thời điểm để doanh nghiệp dành nguồn lực cho những khoản đầu tư dài hạn như công nghệ chế biến, sản phẩm mới, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và hệ thống kiểm soát chất lượng.
Bài toán của ngành thủy sản vì thế cần được đặt lại theo hướng đơn giản nhưng căn bản đó là không phải làm cách nào để xuất khẩu nhiều nguyên liệu hơn, mà làm sao để mỗi tấn nguyên liệu tạo ra nhiều giá trị hơn.
Tin liên quan
Tin khác
VietnamPrintPack 2026 thúc đẩy chuyển đổi xanh và tự động hoá tại Việt Nam
Doanh nghiệp bước vào cuộc chọn lọc đơn hàng
Hộ kinh doanh - nguồn lực lớn để phát triển cộng đồng doanh nghiệp
Ngành xây dựng Việt Nam tăng tốc, tín nhiệm doanh nghiệp phân hóa
Chăn nuôi Việt Nam đối mặt thách thức phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững
Từ rơm rạ bỏ đi đến sản phẩm triệu đô trên Amazon
Logistics Việt Nam trước bài toán tái cấu trúc thể chế
PCI 2.0: Từ chất lượng điều hành đến hiệu quả kinh tế tư nhân
Xuất khẩu tăng tốc, lốp xe Việt Nam đứng trước rủi ro 'hứng đòn' phòng vệ thương mại



