Kinh tế 9 tháng khởi sắc, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát

14:07 | 29/09/2022

Ngày 29/9 tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý 3 và 9 tháng đầu năm 2022. Theo đó, tăng trưởng GDP quý 3/2022 ước tăng 13,67% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể so với mức dự báo tăng trưởng 10-11%, lạm phát  vẫn ở trong tầm kiểm soát.    

kinh te 9 thang khoi sac lam phat van trong tam kiem soat
Ảnh minh họa

GDP 9 tháng tăng cao nhất giai đoạn 2011-2022

Thông tin về tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2022, bà Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết, tăng trưởng GDP quý 3/2022 có sự phục hồi rõ nét với mức tăng trưởng ước tính 13,67% so với cùng kỳ năm trước.

Dù mức tăng trưởng cao của quý 3/2022 được dự báo từ trước song con số tăng trưởng 13,67% vẫn cao hơn so với con số kỳ vọng 10-11% được các chuyên gia và các tổ chức tài chính quốc tế đưa ra trước đó.

“Sở dĩ quý 3/2022 tăng trưởng GDP đạt mức hai con số là do so với nền tăng trưởng âm của quý 3/2021 khi nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19”, bà Hương cho hay.

Nhờ vậy, GDP 9 tháng năm 2022 tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong giai đoạn 2011-2022, cho thấy các hoạt động sản xuất kinh doanh dần lấy lại đà tăng trưởng, chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ đã phát huy hiệu quả.

Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế 9 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,99%, đóng góp 4,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%, đóng góp 41,79%; khu vực dịch vụ tăng 10,57%, đóng góp 54,17%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành chăn nuôi phát triển ổn định, khai thác gỗ được đẩy mạnh, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng khá, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp có xu hướng phục hồi nhanh với mức tăng 9 tháng năm 2022 đạt 9,63% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,25 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Khu vực dịch vụ tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng 9 tháng năm 2022 đạt 10,57%, cao nhất của 9 tháng các năm 2011-2022.

kinh te 9 thang khoi sac lam phat van trong tam kiem soat

Một số ngành dịch vụ thị trường tăng cao, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: ngành bán buôn, bán lẻ tăng 10,24% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1 điểm phần trăm; ngành vận tải kho bãi tăng 14,2%, đóng góp 0,83 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với mức tăng 41,7%, đóng góp 0,81 điểm phần trăm…

Đánh giá về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2022, bà Hương cho hay khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 11,27%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,69%; khu vực dịch vụ chiếm 41,31%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,73%.

Lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát

“Kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2022 của nước ta diễn ra trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới trở nên khó khăn hơn khi xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine kéo dài; lạm phát duy trì ở mức cao, nhất là ở châu Âu và Mỹ; xu hướng tăng lãi suất, thu hẹp chính sách tiền tệ, tài khóa ở nhiều quốc gia; thời tiết diễn biến bất thường ở nhiều châu lục… Tuy vậy, kinh tế nước ta khởi sắc ở hầu hết các lĩnh vực”, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận định.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn kiểm soát được lạm phát. Cụ thể, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2022 tăng 0,4% so với tháng trước chủ yếu do giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào và một số địa phương tăng học phí năm học mới 2022-2023.

So với tháng 12/2021, CPI tháng 9 tăng 4,01% và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,94%.

CPI bình quân quý III/2022 tăng 3,32% so với quý III/2021. Bình quân 9 tháng năm nay, CPI tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước; Lạm phát cơ bản tăng 1,88%.

Theo bà Hương, với chỉ số trên, chúng ta có thể yên tâm kiểm soát lạm phát năm khoảng 4% như Quốc hội đặt ra.

Tuy nhiên, bà Hương cũng cho biết, vẫn còn một số yếu tố có thể làm tăng CPI những tháng cuối năm và áp lực cho năm 2023.

Cụ thể, giá nguyên nhiên vật liêu hiện nay vẫn đang ở mức cao, mà Việt Nam đang phải nhập khẩu phần lớn nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất.

“Nhập giá cao sẽ tác động chi phí, đẩy giá thành sản phẩm lên cao, tạo áp lực lên lạm phát của nền kinh tế”, bà Hương nói.

Mặt khác, giá Đô la Mỹ cũng đang tăng và càng làm tăng thêm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, gây sức ép lên mặt bằng giá.

Thực tế, chỉ số giá nhập khẩu tăng rất cao kể từ năm 2012 đến nay. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu trên 90% là tư liệu sản xuất.

“Điều này cho thấy doanh nghiệp đang chịu sức ép về giá rất lớn trong chi phí sản xuất”, theo bà Hương.

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đánh giá, giá xăng dầu sắp tới vẫn diễn biến phức tạp. Giá thế giới đang giảm nhưng rủi ro giá tăng hiện hữu vì cuộc xung đột Nga - Ukraine chưa biết bao giờ chấm dứt.

Trong khi giá lương thực, thực phẩm, đồ uống, may mặc thường tăng vào cuối năm; Hay thiên tai, dịch bệnh ở các dịa phương cũng có thể làm giá cả tăng lên…

Kinh tế trong nước lại đang phục hồi rõ nét, kết quả tăng trưởng quý III và 9 tháng cho thấy phục hồi mạnh mẽ và còn tiếp tục phục hồi trong những tháng cuối năm làm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trong dân tăng mạnh.

"Những điều trên sẽ là là áp lực lớn cho việc kiểm soát lạm phát năm 2023. Do đó, đòi hỏi tiếp tục phải có những biện pháp kiểm soát giá chặt chẽ", bà Hương cho hay.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750