Lạm phát vẫn an toàn trong dư địa hẹp

09:14 | 16/10/2020

Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tiếp tục giảm về còn 3,85% từ mức 3,96% của 8 tháng và thấp hơn so với mục tiêu 4% mà Quốc hội đã đề ra, tuy nhiên các chuyên gia cho rằng chưa thể chủ quan với lạm phát.

lam phat van an toan trong du dia hep Hỗ trợ nền kinh tế, nhưng đảm bảo kiểm soát lạm phát
lam phat van an toan trong du dia hep Tạm gác lại nỗi lo lạm phát
lam phat van an toan trong du dia hep Nới “room” tín dụng: Áp lực lên lạm phát không lớn

Lạm phát giảm tốc

Tổng cục Thống kê cho biết, mặt bằng giá 9 tháng năm nay tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước và có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản. Ngay từ tháng 1 đã tăng 6,43%, ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành giá của năm 2020, dẫn đến việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội đặt ra gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng với sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng tháng. Theo đó mức tăng CPI bình quân 8 tháng (3,96%) bắt đầu xuống dưới mức 4%, đến 9 tháng tiếp tục theo xu hướng giảm tốc dần xuống còn 3,85%.

Đi sâu phân tích nguyên nhân đẩy CPI 9 tháng tăng, cơ quan này cho biết, là do một số yếu tố sau. Thứ nhất giá các mặt hàng lương thực tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,15%; trong đó giá các mặt hàng thực phẩm tăng 14,31% so với cùng kỳ năm trước làm CPI chung tăng 3,05%, đặc biệt riêng giá thịt lợn tăng 70,55% đã làm CPI chung tăng 2,39%.

lam phat van an toan trong du dia hep
Diễn biến lạm phát

Thứ hai, giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,43% do dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp nên nhu cầu về mặt hàng này ở mức cao và tại một số thời điểm, một bộ phận người dân tập trung đi mua hàng dự trữ nhu yếu phẩm nên có những tác động nhất định đến tâm lý chung toàn xã hội...

Mặc dù lạm phát đang có xu hướng giảm tốc và hiện đang ở dưới mức mục tiêu mà Quốc hội đề ra, song theo giới chuyên môn, chưa thể chủ quan với lạm phát khi mà giá thịt lợn và xăng dầu vẫn diễn biến phức tạp, trong khi đại dịch Covid-19 chưa được kiểm soát trên bình diện thế giới.

Tổng cục Thống kê cũng dự kiến trong những tháng cuối năm sẽ có một số yếu tố chính ảnh hưởng đến lạm phát là giá nhiên liệu, giá lương thực và thời tiết bất lợi. Theo dự báo, giá xăng dầu, giá nhiên liệu sẽ có những diễn biến phức tạp, khó lường và nhiều khả năng tiếp tục xu hướng tăng do nhu cầu thế giới phục hồi khi các quốc gia đang dần nới lỏng các biện pháp cách ly xã hội và khôi phục sản xuất. Trong khi giá thóc gạo chịu các tác động trái chiều khi Hiệp định EVFTA tạo động lực tích cực cho xuất khẩu gạo của Việt Nam, nhu cầu gạo của thế giới ở mức cao do dịch bệnh ở nhiều nước còn diễn biến phức tạp. Nhưng do nguồn cung trong nước dồi dào nên dự báo giá gạo có tăng nhưng tăng nhẹ và không ở mức cao. Ngoài ra rủi ro về thiên tai và thời tiết bất lợi có thể làm tăng giá một số mặt hàng thiết yếu tại những địa phương bị ảnh hưởng.

Không để kỳ vọng lạm phát tăng

Nói về công tác điều hành giá và kiểm soát lạm phát, bà Đỗ Thị Ngọc - Vụ trưởng Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê cho biết, Chính phủ và các bộ, ngành đã nỗ lực rất lớn trong kiểm soát lạm phát. Trong các kỳ điều hành, Chính phủ đều phải có các giải pháp để bình ổn giá cả thị trường bằng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để giảm thiểu tác động của lạm phát cũng như để làm giảm lạm phát kỳ vọng.

Dẫn chứng trường hợp giá xăng dầu, bà Ngọc cho biết, 9 tháng đầu năm giá dầu thô Brent trên thế giới tăng 37% so với cùng kỳ nhưng trong nước, giá dầu chỉ tăng 22%. Điều này là do liên bộ đã có sự phối hợp điều hành sử dụng quỹ bình ổn giá như một công cụ kinh tế để điều hành tăng - giảm giá trong các thời điểm, không tạo ra sự đột biến, không tạo ra sự tác động lan truyền từ đó giảm lạm phát kỳ vọng.

Dự báo về giá cả và lạm phát những tháng tới, Tổng cục Thống kê cho biết, trên cơ sở đánh giá, dự báo xu hướng giá cả thế giới và trong nước và với sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ, dự kiến CPI bình quân năm 2020 so với năm 2019 khả năng cao đạt mục tiêu Quốc đề ra dưới 4%.

Các chuyên gia về giá cả và lạm phát cũng tin rằng sẽ giữ được mức tăng lạm phát trong giới hạn 4%, nhưng cũng ý rằng dư địa rất hạn hẹp. “Việc điều hành giá cả và kiểm soát lạm phát 2020 phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với mấy năm gần đây do Covid-19 đã đẩy thế giới vào cuộc khủng hoảng chưa từng có, lại thêm dịch tả lợn châu Phi. Bên cạnh đó là sự căng thẳng của cuộc chiến tranh thương mại và bất đồng nội bộ sâu sắc giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ…”, PGS.TS.Ngô Trí Long cho biết.

Theo chuyên gia này, áp lực lạm phát là có, nhưng có thể vượt qua, đặc biệt khi các cơ quan điều hành chính sách đều khá thận trọng và chú trọng kiểm soát lạm phát, mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4% là có thể đạt được. Tuy nhiên, theo quan điểm của ông, trong bối cảnh khó khăn và dịch bệnh vẫn phức tạp, thế giới đang có nhiều biến động bất định, khó lường, nếu lạm phát năm nay vượt mục tiêu Quốc hội đặt ra đôi chút cũng là điều có thể chấp nhận được.

Các chuyên gia nhấn mạnh với tình hình thị trường và giá cả đã được dự báo đòi hỏi công tác điều hành vẫn phải kiên định với ổn định vĩ mô và kiểm soát chặt chẽ thị trường giá cả, phải quyết liệt thực hiện nhanh và hiệu quả các giải pháp phục hồi kinh tế và phòng chống dịch bệnh, giữ vững niềm tin không để kỳ vọng lạm phát tăng. Dù như Tổng cục Thống kê đã nhận định lạm phát cả năm vẫn giữ được mục tiêu nhưng các chuyên gia vẫn nhấn mạnh: không chủ quan và lơ là với lạm phát.

Các chuyên gia cũng đề nghị Chính phủ và Ban chỉ đạo giá của Chính phủ tiếp tục yêu cầu các Bộ, ngành tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá. Đối với các mặt hàng giá thị trường có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây, như thịt lợn, lương thực, xăng dầu cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường. Đặc biệt với giá xăng dầu, yêu cầu Bộ Công thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn với liều lượng thích hợp, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá tăng cao, để tạo dư địa thuận lợi cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm.

Linh Đan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.076 23..288 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.800
56.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.800
56.300
Vàng SJC 5c
55.800
56.320
Vàng nhẫn 9999
53.370
53.870
Vàng nữ trang 9999
52.870
53.570